Saturday, February 22, 2014

ĐẶC CÔNG TRUYỀN THÔNG

ĐẶC CÔNG TRUYỀN THÔNG

Đỗ Thái Nhiên

Chế độ dân chủ là chế độ đối thoại. Đối thoại giữa người dân với người dân, giữa ngươi dân với cơ quan công quyền và giữa các cơ quan công quyền với nhau. Đối thoại dân chủ không chấp nhận mọi hình thức vu khống hay nhục mạ những người có ý kiến dị biệt. Đối thoại dân chủ có chủ đích giúp cho người dân tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất cho từng tình huống xã hội. Căn cứ vào ý nghĩa của đối thoại dân chủ, bài viết này trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi cuộc thảo luận có chủ đề "Cộng Sản Việt Nam Dâng Đất Cho Trung Quốc". Chủ đề này đã làm dư luận Việt Nam vô cùng sôi nổi. Hầu hết người Việt Nam đều cực lực phản đối Việt Cộng bán nước. Thế nhưng giữa những lời lẽ phản đối gay gắt kia, đôi khi chúng ta bắt gặp một vài luận cứ khác thường. Khác thường ở chỗ sự thật và sự không thật được pha trộn lẫn vào nhau theo một liều lượng có tính toán với ý đồ bóp méo tin tức một cách tinh vi. Một trong những tác giả viết theo liều lượng vừa kể là ông Tú Gàn. Trên báo Saigòn Nhỏ số phát hành ngày 15/02/02 và 01/03/02 Tú Gàn viết hai bài mang tựa đề "Bạch Thư Về Biên Giới" và "Một Chuyến Đi Nam Quan". Hai bài này có ba sai lầm căn bản sau đây :

1.) Sai Lầm Lịch Sử:

Mở đầu bài "Bạch Thư Về Biên Giới", nhân câu chuyện nói với một độc giả về vụ Việt Cộng bán đất, Tú Gàn cho rằng Ải Nam Quan là của Tàu. Tiếp đó, ông khẳng định : "Nó dám bán ải Nam Quan của Tàu cho Tàu lấy tiền chơi gái là nó ngon lắm đấy".

Tại phần cuối của Bạch Thư, một lần nữa Tú Gàn quả quyết : "Như vậy, không có vấn đề tranh luận ải Nam Quan thuộc quyền sở hữu của ai, vì sử đã ghi rõ ải đó của Trung Hoa".

Câu hỏi được đặt ra là : cổ sử đã ghi chép những gì về ải Nam Quan. Bộ cổ sử Đại Nam Nhất Thống Chí (1847 - 1883) tại tập 4, trang 384 - 385 ghi chép như sau:

"Đại Nam Quan ( tên cũ của Ải Nam Quan) phía Đông là một dãy núi đất, phía Tây là một dãy núi đá đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường... phía Bắc cửa có Chiêu Đức Đài, đàng sau đài có Đình Tham Đường (nhà nuôi ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có Ngưỡng Đức Đài của nước ta. Bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang. Mỗi khi xứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ".

Xét : trấn Nam Quan (tức Ải Nam Quan) không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử và Bắc sử đều không có minh văn. Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang sửa lại Ngưỡng Đức Đài, lập bia ghi việc đại lược nói : "nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ là vì diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan (tức cửa ải) Cửa quan có Ngưỡng Đức Đài không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh ( 1522-1566)".

Mặt khác, bộ Phương Đình Địa Dư Chí của Nguyễn Văn Siêu xuất bản năm 1900 (Tác gỉa Nguyễn Văn Siêu là nhà thông thái bên cạnh Cao Bá Quát được người đời truyền tụng là "Văn như Siêu Quát, vô tiền Hán") . Khi nhắc tới Ải Nam Quan, Phương Đình Địa Dư Chí có xác nhận sự hiện diện của Ngưỡng Đức Đài và viết thêm : "Khi trước (đài này) lợp cỏ, năm thứ 34 niên hiệu Cảnh Hưng, quan đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại, có văn bia như sau : Đài (Ngưỡng Đức Đài) có quán hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê Trung Hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 là năm Canh Tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nước Thanh. Đang tôi (tức ông Nguyễn Trọng Đang) làm giữ chức Đốc trấn qua năm năm là năm Giáp Thìn, sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng..."

Như vậy, cả hai bộ cổ sử Đại Nam Nhất Thống Chí và Phương Đình Địa Dư Chí đều xác nhận Ải Nam Quan là một kiến trúc gồm hai phần :

- Phần thứ nhất: Gồm Chiêu Đức Đài và các cơ sở phụ thuộc nằm ở phía bắc ải do người Trung Hoa xây dựng và làm chủ.

- Phần thứ hai: Gồm Ngưỡng Đức Đài và hai hành lang tả hữu do triều đình Việt Nam xây dựng và làm chủ.

Xin nhấn mạnh thêm rằng: hai tên gọi Chiêu Đức Đài và Ngưỡng Đức Đài cũng đủ làm nổi bật sự gắn bó của hai phần kiến trúc tạo thành Ải Nam Quan. Nói cách khác, Ngưỡng Đức Đài trong Ải Nam Quan là của Việt Nam. (Tên gọi Ngưỡng Đức Đài còn ngầm nói lên thái độ trịch thượng của triều đình Trung Hoa đối với Việt Nam). Mặc dầu vậy, ông Tú Gàn vẫn khăng khăng xác định "Ải đó của Trung Hoa". Xác định kia hiển nhiên là một sai lầm đối với lịch sử.

2.) Sai Lầm Thực Tiễn

Ngày 28 tháng Giêng năm 2002 ông Lê Công Phụng thứ trưởng bộ ngoại giao CSVN, trong một cuộc phỏng vấn có chuẩn bị trước đã cho báo chí biết : "tại bắc Trung Quốc, cửa khẩu Bắc Luân gồm hai cửa: Một cửa nằm trên lãnh thổ Trung Quốc, cửa kia nằm trên lãnh thổ nước láng giềng". Thực tiễn này minh chứng Ải Nam Quan gồm hai cửa: Cửa Chiêu Đức Đài và cửa Ngưỡng Đức Đài chỉ là một sự việc rất bình thường, một tập quán có thật nằm trên biên giới Trung Hoa và các nước láng giềng.

Trên Việt Báo Online (24/1/2002), trong bài Vấn Đề Cộng Sản Bán Nước Và Chiến Lược Đấu Tranh, Dương Thái Sơn viết: Theo nhà văn Hoàng Tiến ( hiện còn sống ở trong nước) thì vào năm 1954 hai bên ải có quân đội hai nước canh gác, nhưng về sau, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) cho dân tràn lấn qua xây cất nhà cửa phía bên lãnh thổ Việt Nam viện lý do dân- chúng-mới-tràn-lấn muốn thuộc quyền hành chánh của họ, Trung Quốc xem đất đó là đất của họ. Thực tiễn này cho thấy Ải Nam Quan có hai cửa ải thông qua sự hiện diện của quân đội Trung Quốc và CS Việt Nam ở hai bên ải.

Báo Thời Luận (Los Angeles) số Tân Xuân Nhâm Ngọ 2002 trang 5, sử gia Trần Gia Phụng xác nhận : "Nhạn Môn Quan là cửa ải cực Bắc Trung Hoa. Mỗi lần sứ quan một trong hai nước bước qua cửa ải là tiến vào địa phận nước bên kia". Thực tiễn này khẳng định sự việc Lê Công Phụng - thứ trưởng ngoại giao của CSVN - cho rằng mục Nam Quan là của Trung Quốc và mục Nam Quan nằm cách biên giới Việt Hoa 200 m là điều phi lý. Nó là bằng chứng cho thấy ít ra CSVN đã dâng cho Trung Quốc phần đất 200 m trước Ải Nam Quan, bất kể những xác định của lịch sử về đường biên giới Việt Hoa.

3.) Sai Lầm Lý Luận

a.) Sai lầm lý luận giải thích tiếng Việt: vẫn trong bài viết có tựa đề "Một Chuyến Đi Nam Quan", ông Tú Gàn cho rằng sở dĩ người Việt Nam quả quyết ải Nam Quan thuộc Việt Nam là vì họ tin vào một câu viết trong sách giáo khoa ngày xưa: "Nước Việt Nam ta hình chữ S, chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau". Nhằm chỉ trích quả quyết vừa kể, ông Tú Gàn đề nghị sửa câu viết trong sách giáo khoa đó như sau: "Nước Việt Nam hình chữ S kéo dài từ Đồng Văn tới mũi Cà Mau". Lý do: Đồng Văn mới đích thực là một địa danh ở cực Bắc của Việt Nam, nó cách ải Nam Quan 180 km.

Muốn tìm hiểu ý nghĩa đích thực của một câu văn, nhiều khi chúng ta không thể chỉ đơn giản khảo sát những từ ngữ xuất hiện trong câu văn đó. Chúng ta còn phải tìm hiểu xem câu văn đóù nhằm tác động vào thành phần độc giả nào ? "Ý tại ngôn ngoại" của nó là gì ? Dĩ nhiên mọi người Việt Nam nhất là những người Việt Nam viết sách giáo khoa địa lý đều thừa biết đâu là Đồng Văn, đâu là ải Nam Quan. Đừng quên rằng câu văn: "Nước Việt Nam ta hình chữ S ..." chỉ là lời văn diễn tả hình thể nước Việt Nam một cách ngắn gọn, tổng quát và nhất là có chủ ý giúp cho học trò nhỏ dễ nhớ. Vì vậy câu văn đối tượng của cuộc tranh cãi cần được hiểu rằng "Nước Việt Nam ta hình chữ S, chạy dài từ biên giới Việt Hoa tới mũi Cà Mau". Tuy nhiên, trên biên giới Việt Hoa, ải Nam Quan là địa danh nổi tiếng nhất, quan trọng nhất vì vậy sách giáo khoa địa lý mới viết : "Nước Việt Nam ta hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau". Đó là cách giải thích tiếng Việt linh động và thông minh mà bất kỳ người Việt Nam bình thường nào cũng có thể hiểu được.

Căn cứ vào những giải thích lệch lạc về Việt ngữ của mình, Tú Gàn không ngần ngại kết luận rằng : "Nước Việt Nam hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau" là câu "kinh Coran" sai lầm, rằng ải Nam Quan không thuộc về Việt Nam, và rằng những người chống cộng là "các tín đồ chống cộng không bao giờ muốn chấp nhận sự thực". Các lời lẽ vừa trích dẫn của Tú Gàn có ngụ ý miệt thị và chế diễu tín đồ và tín ngưỡng của mọi tôn giáo. Vấn đề không là chống cộng theo tinh thần của tín đồ hay tinh thần vô tôn giáo. Vấn đề chính là chống cộng đồng nghĩa với ái quốc, đồng nghĩa với nghĩa vụ đấu tranh cho công bằng và lẽ phải, cho sự hanh thông của lịch sử Việt Nam.

b) Sai Lầm Lý Luận Pháp Lý:

* Sai lầm phương pháp dẫn chứng : Nhằm giải quyết vấn đề Việt Cộng dâng đất cho Trung Cộng, Tú Gàn chủ trương "chúng ta kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh về việc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam" Tuy nhiên, theo Tú Gàn, muốn kiện chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc không được dẫn chứng bằng những tin tức "nghe nói" tức là "tin tức hearsay".

Lịch sử có trước khi loài người có chữ viết, trước khi loài người sáng chế ra giấy mực. Vì vậy đối với những tranh chấp có liên hệ đến di tích lịch sử như những tranh chấp về lãnh thổ, con người không thể cứng rắn loại bỏ mọi loại bằng chứng có tính hearsay. Vì lý do đó, bên cạnh nguyên tắc loại bỏ hearsay, luật pháp còn chấp nhận nguyên tắc "circumstantial evidence". Nguyên tắc này cho phép thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn được quyền tuyển chọn bằng chứng từ phương pháp suy diễn. Nói tới hearsay nhưng tảng lờ circumstantial evidence chỉ là nói lên một nửa sự thực. Một nửa cái bánh mì là nửa cái bánh mì, nhưng một nửa sự thực không là một nửa sự thực. Nó chính là một dối gạt toàn phần.

Mặt khác Tú Gàn mạnh mẽ đề cao nguyên tắc phủ nhận hearsay như một quyết tâm làm cho vụ kiện Việt Cộng bán nước được diễn ra trên căn bản "dựa vào các sự kiện lịch sử và các nguyên tắc của quốc tế công pháp" (Bạch Thư Về Biên Giới). Thế nhưng trong suốt bài viết "Một Chuyến Đi Nam Quan", Tú Gàn chỉ nói đến cột mốc số 0 một cách lơ mơ. Vấn đề không là tên gọi của cột mốc mà là tọa độ của mỗi cột mốc. Tọa độ đó sai biệt như thế nào so với những cột mốc trong hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Hoa 1887 - 1895 ? Thảo luận về vị trí những cột mốc trên biên giới Việt Hoa nhưng không hề đề cập đến tọa độ của chúng chẳng khác nào viết một cáo trạng dài lê thê nhưng không hề xác định căn cước của phạm nhân. Chưa hết, mặc dầu không tiếc lời chê trách những người lý luận theo hearsay, nhưng chính Tú Gàn trong toàn bộ bài viết "Một Chuyến Đi Nam Quan" lại chỉ viết theo kiểu hearsay khi Tú Gàn ghi nhận chuyến đi thăm Việt Nam của "một vài người Việt ở Nam Cali", nhóm người này không tên họ, không tuổi tác, không căn cước.

Nhìn chung lại những cột mốc không tọa độ cộng với vài ý kiến của một số du khách vô danh đã là nền tảng lý luận trong các bài viết được Tú Gàn gọi là đi tìm "một giải pháp hợp lý và công bằng cho vấn đề lãnh thổ và lãnh hải".

* Sai lầm về nghĩa vụ dẫn chứng: Tú Gàn xác quyết "có trong tay bằng chứng mới kiện cáo được" (Bạch Thư Về Biên Giới). Nói tới bằng chứng tức là nói tới nghĩa vụ dẫn chứng. Dưới chế độ tự do dân chủ, nghĩa vụ dẫn chứng được giải thích chặt chẽ trên nguyên tắc rằng: trước tòa án nhà cầm quyền bao giờ cũng có ưu thế hơn cá nhân công dân. Vì vậy, nghĩa vụ dẫn chứng được chế độ tự do dân chủ qui định trong hai trường hợp như sau :

- Trường hợp một: cá nhân công dân bị truy tố ra trước tòa án về một hành động phạm pháp. Trong trường hợp này, nhà cầm quyền, cụ thể là cơ quan công tố, chứ không phải phạm nhân, có nghĩa vụ dẫn chứng rằng nghi can đã phạm pháp.

- Trường hợp hai: cá nhân công dân khiếu tố nhà cầm quyền về một vụ việc phạm pháp nào đó. Trong trường hợp này, nhà cầm quyền chứ không phải cá nhân công dân có nghĩa vụ dẫn chứng rằng nhà cầm quyền vô tội.

Trở lại với vụ việc CSVN dâng đất cho Trung Quốc, người dân chỉ cần dựa vào một vài tin tức về hai hiệp ước lãnh thổ, lãnh hải giữa Việt Cộng và Trung Cộng để khiếu tố nhà cầm quyền CSVN về tội phản quốc. Đáp lại, nhà cầm quyền CSVN có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan xử án là họ vô tội. Bước đầu tiên của quá trình dẫn chứng này là CSVN phải phổ biến rộng rãi toàn bộ hai hiệp ước giữa Việt Cộng và Trung Cộng 1999-2000. Nếu CSVN viện dẫn lý do "bí mật quốc gia" để từ chối nghĩa vụ dẫn chứng này, người dân Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn là lật đổ chế độ Cộng Sản để mở đường cho công lý đến với mọi người, mọi nhà, mọi cấp công quyền.

* Sai lầm về thẩm quyền tòa án : Xin được nhắc lại: ở đoạn cuối của "Bạch Thư Về Biên Giới", Tú Gàn quả quyết: nếu có đủ bằng chứng, "chúng ta kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh về việc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam". Tác giả không nói rõ đương sự sẽ nạp đơn khiếu tố tại tòa án nào. Tuy nhiên nhóm chữ "cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh" cho thấy tòa án hữu thẩm quyền là một tòa án quốc tế nào đó. Hiện nay có hai tòa án quốc tế mà chúng ta cần nghĩ tới:

1. International Court of Justice: thành lập năm 1945, trực thuộc Liên Hiệp Quốc. Tòa này có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp giữa các quốc gia trong hòa bình. Vụ việc Việt Cộng bán nước không hề là một tranh chấp giữa nhà cầm quyền CSVN và Trung Hoa. Vì vậy tòa án này hoàn toàn vô thẩm quyền.

2. International Criminal Court: sẽ hoạt động kể từ tháng 7 năm 2002. Tòa án này chỉ xét xử bốn tội: diệt chủng, chống nhân loại, tội ác chiến tranh, tội xâm lăng. Tội bán nước của Việt Cộng không là một trong bốn tội danh kể trên. Vì vậy International Criminal Court hoàn toàn vô thẩm quyền đối với hành động phản quốc của Việt Cộng.

Các trình bày tổng quát về tòa án quốc tế cho chúng ta thấy Tú Gàn sẽ cầm lá đơn "kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh" đi khắp thế giới để cuối cùng không tìm ra được một tòa án hữu thẩm quyền nào. Bài viết này chỉ đặt vấn đề thẩm quyền của tòa án, chưa thảo luận đến tư cách của nguyên đơn cùng các giải pháp pháp lý cần thiết.

Nói tóm lại, các bài viết của Tú Gàn về vấn đề lãnh thổ và lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đã hàm chứa ba sai lầm căn bản:

- Sai lầm lịch sử
- Sai lầm thực tiễn
- Sai lầm pháp lý

Ba sai lầm đó được Tú Gàn điều chế thành chất nổ để tạo ra một quả bom. Nói tới bom tức là nói tới đặc công. Trước 1975, tại Việt Nam Cộng Hòa, nhất là tại Sài Gòn, một số cán binh Việt Cộng thường giả dạng thường dân. Họ sống trà trộn trong quần chúng. Họ nói năng và sinh hoạt như những người dân bình thường. Thế nhưng khi có cơ hội thuận tiện họ lập tức gài bom tại những địa điểm do Việt Cộng chỉ định. Mỗi tiếng bom nổ là một "tiếng cười đại thắng" của ác quỷ khủng bố. Ác quỷ khủng bố đó có danh hiệu là đặc công quân sự. Tại Hoa Kỳ, bom quân sự được thay thế bằng bom Tú Gàn. Bom Tú Gàn không nhằm thủ tiêu sinh mệnh của lương dân nhưng nó nhằm thủ tiêu tinh thần đoàn kết của quần chúng Việt Nam, thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một Việt Nam tự do dân chủ. Đặc biệt trong vụ Việt Cộng dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng, bom Tú Gàn là một loại hỏa mù. Nó cố tình làm cho người đọc khó nhận diện sự khác biệt giữa cột mốc thật và cột mốc bán nước trên biên giới Việt Hoa.

Điều đáng chú ý: Chỉ có một cột mốc nổi tiếng nhất, quan trọng nhất không thể dễ dàng dời đổi như những cột mốc vô danh khác, đó là cột mốc Ải Nam Quan.

Với mục đích bao che cho hành động bán nước của Việt Cộng, Tú Gàn không thể không tung vào dư luận sự ngụy biện rằng ải Nam Quan nằm sâu trong lãnh thổ Trung Hoa và hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Trung Hoa. Từ đó ải Nam Quan không còn giá trị của một cột mốc biên giới nữa. Từ đó những cột mốc còn lại là những cột mốc biết đi. Chúng âm thầm di chuyển tùy theo ý đồ bán nước của Việt Cộng. Phải chăng đây là tất cả thâm ý của Tú Gàn khi ông này quyết tâm viết một loạt bài chứng minh ải Nam Quan là của Trung Quốc. Thâm ý đó còn là cửa ngõ giúp mọi người nhìn ra sự thực rằng bom Tú Gàn có chủ ý gây rối loạn trên địa bàn truyền thông nhằm tạo hỏa mù giúp kẻ bán nước chạy tội. Bom Tú Gàn chính là bom truyền thông. Tú Gàn gài bom truyền thông ở tư thế của một người giả dạng nạn nhân của Cộng Sản. Không còn nghi ngờ gì nữa, bút pháp của Tú Gàn đích thực là kỹ thuật hành động dành cho một đặc công truyền thông. Tuy nhiên đứng trước trình độ chính trị đã thực sự trưởng thành của đông đảo quần chúng Việt Nam, đứng trước vô số tin tức chính xác xuất phát từ những mạng lưới điện toán thế giới, bom Tú Gàn hiển nhiên không hữu hiệu. Chẳng những vậy, bom Tú Gàn còn ẩn chứa một phản tác dụng. Phản tác dụng kia chính là lời khẳng định đanh thép rằng: Tú Gàn có quyền binh vực CSVN. Đó là chân ý nghĩa của quyền tự do tư tưởng. Thế nhưng quyền tự do tư tưởng tuyệt nhiên không đồng nghĩa với hành động giả vờ đứng trên lập trường dân tộc để phản dân tộc, giả vờ chống cộng để kín đáo phổ biến những luận điệu có lợi cho Cộng Sản. Mỗi giả vờ như vậy là một tác vụ nham hiểm của đặc công truyền thông. Mỗi tiếng nổ của bom đặc công truyền thông là một thú nhận: đặc công truyền thông không thể được chấp nhận như một hình thái đấu tranh chính trị. Đặc công truyền thông hiển nhiên là những tên tội phạm văn hóa chuyên lén lút gây ô nhiễm môi trường truyền thông. Bọn họ là thành phần nội thù khó nhận diện nhất, nguy hiểm nhất, cần phải loại bỏ ở mức độ triệt để và khẩn cấp nhất./.


Đỗ Thái Nhiên

Thursday, February 20, 2014

Tôi Là Người Bán Hàng


Tôi Là Người Bán Hàng

Bạn ơi,
Gọi tôi là gã bán hàng.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh.
Hàng về phải bán cho nhanh.
Bán mau, bán đắt mới thành đại gia.
Nhưng tôi ăn nói thật thà.
Thuận mua vừa bán ấy là phương châm.
Khách hàng dù có cằn nhằn.
Tôi vẫn vui vẻ, trăm phần dễ thương.
Chữ Tín nào dám coi thường.
Hàng sao nói vậy không lường gạt ai.
On Sale (1) cho khách thêm vui.
Lần sau lại ghé nói lời cảm ơn.
Chẳng phiền khi khách  rì-thơn. (2)
Trả ngay tiền lại chẳng buồn lòng ai.
Nhưng tôi không phải, bạn ơi.
Người buôn, kẻ bán kiếm lời mưu sinh.
Hàng tôi, hàng lạ hàng lùng.
Bạn không tìm thấy khắp cùng thế gian.
Hoa tôi không phải hoa lan.
Hoa vui đám cưới, hoa buồn đám ma.
Hoa tôi hoa Mạnh Thù Sa.
Hoa Vô Ưu với Mạn Đà trang nghiêm.
Thấy hoa như thấy mẹ hiền.
Thấy ngay thất tổ, cửu huyền vãng sinh.
Tôi không bán nhạc xập xình.
Nhạc than, nhạc khóc, nhạc tình kêu la.
Nhạc tôi dâng tiếng thái hòa.
Lưới Trời Đế Thích hòa ca nhạc Trời.
Trăm tiếng vi diệu bạn ơi.
Nghe rồi tỉnh giấc mơ đời đảo điên.
Tôi còn rao bán cả chim.
Nhưng chim quý lạ, khó tìm thế gian.
Tiếng chim niệm Phật hòa vang.
Bạch Hạc, Khổng Tước, Ca-lăng-tần-già.
Tôi còn rao bán cả nhà.
Nhưng là Tịnh Xá ở mà yên vui.
Nhà không phiền não bạn ơi.
Nếu muốn thanh tịnh thì mời tới xem.
Chuông tôi gõ tiếng êm đềm.
Tiếng chuông tỉnh thức lắng yên lòng người.
Tôi còn bán nước bạn ơi.
Nhưng không nước ngọt nặng mùi Coca.
Nước tôi là nước Cam Lồ.
Vượt qua sinh tử tới bờ an nhiên.
Nhang tôi ai ngửi mùi hương.
Bỏ ngay tất cả giận hờn sân si.
Mõ tôi gõ tiếng từ bi.
Khoan thai, dìu dặt hướng về nẻo thương.
Tôi còn bán cả ruộng nương.
Nhưng là Ruộng Phúc (3) mở đường về sau.
Muốn cho con cháu sang giàu.
Mua ngay Ruộng Phúc trồng cây cứu đời.
Tôi là kẻ bán an vui.
Bán đồ thanh tịnh, bán lời bình an.
Kính mời quý bạn ghé thăm.
Không mua tôi vẫn nặng lòng cám ơn. 

Đào Văn Bình
(California Tháng 2, 2014)

(1) On Sale: Hạ giá để chiêu khách
(2) Return: Mua rồi không ưng ý, trả lại
(3) Phúc điền:

Friday, February 14, 2014

Cái tội Không Thật


Nguyễn Đạt Thịnh

Sự thật là trị giá lớn nhất trong mọi liên hệ của nhân loại; tương quan giữa hai cá nhân, hay hai quốc gia, nếu không đặt trên căn bản sự thật, thì quả không có khởi điểm để bắt đầu.

Một ông chủ doanh nghiệp loan báo cho nhân viên biết doanh nghiệp thua lỗ, phải đóng cửa; tin ông nói ra dĩ nhiên là một tin không vui, nhưng vẫn chuyên chở sự thật giúp công nhân làm việc với ông biết tình trạng thất nghiệp của mình để tự mưu cầu một lối thoát cho họ.

Nhưng nếu ông nói thêm là một tháng sau, doanh nghiệp sẽ có cơ tái hoạt động nhờ một khoản tài trợ của chính phủ, mà tin này lại không thật thì ông đã lừa dối những người tin tưởng ông. Ông phạm vào tội không thật, cái tội mà phó đề đốc Hoàng cơ Minh đã phạm.

Mười năm, 15 năm trước, hay lâu hơn nữa, tôi viết bài chỉ trích mặt trận kháng chiến phục quốc của ông Minh, chỉ trích một việc làm không thật, một xảo thuật hào nhoáng, vẽ ra để thỏa mãn thèm khát phục quốc của người Việt hải ngoại, hầu gom góp và bỏ túi tiền họ ủng hộ một nỗ lực kháng chiến mà họ mong thành hình.

Tôi không nhớ, mà cũng không muốn nhớ lại trang sử tuy ngắn ngủi, nhưng vô cùng nhục nhã và tai hại trong cuộc đấu tranh chống Cộng của người Việt hải ngoại.

Một số những bài báo đó đăng trên tờ Việt Nam Hải Ngoại của anh Đinh Thạch Bích, một số khác đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong, và sau này trên tờ Sài Gòn Nhỏ, do cô Hoàng Dược Thảo làm chủ bút.

Đa số những "tội" mà tôi lôi ra để chỉ trích ông Phó Đề Đốc Minh là tội "không thật", Mặt Trận Kháng Chiến bịa đặt ra để lừa gạt, quyên tiền của đồng bào hải ngoại.

Một thí dụ: Mặt Trận loan tin tấn công và chiếm đóng quận lỵ Thiện Ngôn nguyên một đêm, mở kho gạo của Việt Cộng phát cho đồng bào trong quận, rồi sáng hôm sau rút trở vào rừng già Tây Ninh.

Tôi đùa bỡn thách ông Minh tìm ra quận Thiện Ngôn trên bản đồ Việt Nam, vì thật tế chỉ có đồn Địa Phương Quân Thiện Ngôn, nằm trên tỉnh lộ 22 (?) từ Tây Ninh ra biên giới Miên. Chiến công chiêm bao chiếm "quận Thiện Ngôn" mua được một tiếng cười chua chát của độc giả.

Một thí dụ khác về những chiến khu, những đơn vị kháng chiến tưởng tượng chỉ được "vẽ" trên giấy, nhưng chiến khu nào, đơn vị nào cũng mang danh số tổng cộng thành 9 nút. Có lẽ từ ngày còn mang lon, đội mão, ông Đề Đốc nhà mình cũng thích "cờ bịch" (tiếng riêng của anh Văn Quang).

Chiến khu "quốc nội" là chỗ dưỡng quân của các đơn vị sau một thời gian tung hoành hoạt động, tấn công địch; có lần, theo tin đặc biệt của Mặt Trận, một đơn vị kháng chiến bị địch đánh tan, một số chiến sĩ HCM (đừng lầm là Hồ Chí Minh) lạc đơn vị.

Trong số này một chiến sĩ có sáng kiến nằm giữa đường để đơn vị di chuyển qua, "khám phá" ra anh; sáng kiến còn "cao siêu" thêm một bậc nữa là, để khỏi mất súng, anh đem khẩu súng dấu sau lưng, nằm đè lên để địch không biết súng anh dấu đâu.

Câu chuyện nhiều tính hài hước được chủ tịch HCM trịnh trọng kể lại trên một sân khấu Quận Cam, trong dịp đồng bào hải ngoại linh đình đón ông từ chiến khi quốc nội trở về. Ông ca ngợi anh chiến sĩ Mặt Trận chấp nhận đau lưng, vì bị súng cấn vào lưng, nhưng cương quyết bảo vệ vũ khí, không đổi thế nằm.

Tôi viết bài, hỏi đùa ông là trong giả thuyết một đơn vị địch di chuyển đến gần, thì anh chiến sĩ Khiến Chán của ông có đổi thế nằm không, hay sẽ tác xạ giết địch trong thế bắn nằm ngửa?

 Thí dụ thứ ba: nhà văn Hải Bằng điện thoại hỏi tôi, "anh coi hình 'vá cờ' chưa? Bà xã em ngồi làm mẫu cho anh Nguyễn Ngọc Hạnh chụp đó." Tôi chưng hửng vì Mặt Trận đang bán hình chị Hải Bằng với lời giải thích chị là góa phụ của một chiến sĩ bị địch bắn tử thương trong nỗ lực cuối cùng, trèo lên cột cờ để đem quốc kỳ xuống, ấp ủ dấu kín trước phút mất nước."

Cũng như những câu chuyện bịa đặt khác, tôi vừa kể ở đoạn trên, ban lãnh đạo tối cao của Mặt Trận tỏ ra thiếu tưởng tượng; trong những bài viết chỉ trích những lường gạt đó, tôi nêu lên đặc tính thiếu tưởng tượng của họ.

Tôi hỏi họ, "nếu họ phát gạo lấy từ kho "quận" Thiện Ngôn cho cư dân trong quận và bị một cư dân từ chối không muốn khiêng bao gạo về nhà, vì anh không muốn, ngày hôm sau, khi Việt Cộng trở lại 'quận', bắt anh khiêng bao gạo trả trở về kho của chúng, thì Mặt Trận sẽ trả lời như thế nào với anh nông dân này."

Trường hợp anh chiến sĩ đương cự với địch trong thế bắn nằm ... ngửa, tôi hỏi đề đốc Minh, bề nào câu chuyện cũng chỉ là giả tưởng, sao đề đốc không bảo anh chiến sĩ Kháng Chiến, dấu khẩu súng vào bìa rừng, rồi tay không, anh ra giữa đường nằm -nằm ngửa, nằm xấp, hay nằm nghiêng cũng được- chờ được đơn vị dắt trở về chiến khu.

Tôi kể lại những chuyện này để xin anh Ngô Kỷ, và cô Hoàng Dược Thảo nhẹ tay với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, vì phiên tòa dư luận không thể không xét đến "nghi vấn" bà Thanh Thủy bị Việt Tân lừa. Là tổ chức thối thân của Mặt Trận, Việt Tân bây giờ phải có nhiều thủ đoạn lừa gạt tinh vi hơn Mặt Trận ngày xưa nhiều lắm.

Nếu ngày xưa, vài trăm ngàn đồng bào hải ngoại đã bị những câu chuyện nỡm "thế bắn nằm ngửa" và "kho gạo quận Thiện Ngôn" lừa bạc triệu để tài trợ một hệ thống hàng phở, thì trường hợp bà Thanh Thủy bị lừa càng khả tín hơn: ở trong nước, tin tức bị bưng bít, bà không thể nào biết nghi vấn Việt Tân là cánh tay nối dài của Vẹm.

Dù bà Thanh Thủy có lầm lẫn vì "theo" Việt Tân, thì sự lầm lẫn của bà cũng vẫn nhẹ hơn sự lầm lẫn của hàng triệu người Việt hải ngoại, cho đến giờ này vẫn chấp nhận sự hiện diện của Việt Tân, tổ chức thối thân Mặt Trận Hoàng Cơ Minh.

Chán ghét Việt Tân đến mức không thèm ngó ngàng gì đến nó, để mặc nó nói dối, lừa gạt vô tội vạ, chính chúng ta đã đồng lõa với tội "không thật".

Việt Tân là một sản phẩm quốc ngoại, như một số sản phẩm nằm vùng khác, Việt Cộng đã gài được vào sinh hoạt của chúng ta. Dung dưỡng nó, chúng ta có lỗi nhiều hơn bà Thanh Thủy, một nạn nhân của nó./.


Nguyễn Đạt Thịnh

Thursday, February 13, 2014

Valentine cho Liệt Nữ Hoàng Thị Hồng Chiêm


Đặng Huy Văn: Nhìn các cháu thanh niên hôm nay đang nô nức mua những bông hoa Valentine để tặng người yêu nhân ngày Tình Nhân 14/2 mà lòng tôi se lại. Cách đây tròn 35 năm, có lẽ cũng ngày này, đôi bạn trẻ Hoàng Thị Hồng Chiêm và Bùi Anh Lượng cũng đang tặng hoa cho nhau trong tình yêu thương cháy bỏng của tuổi trẻ. Vậy mà chỉ 3 ngày sau, ngày 17/2/1979, cặp tình nhân yêu nước yêu người đó đã bị quân bành trướng Bắc Kinh giết hại trong một trận chiến không cân sức trên đỉnh Pò Hèn nơi Biên Giới Móng Cái.

Cách đây 4 năm, do sức ép của giặc Tàu, bè lũ Chiêu Thống Việt gian còn xoá tên Hoàng Thị Hồng Chiêm khỏi ngôi trường THCS tại quê hương xã Bình Ngọc và còn cố xoá mờ cả tên chị được khắc trên bệ tượng đài Hoàng Thị Hồng Chiêm dựng tại sân trường THCS xã Bình Ngọc mang tên chị từ năm 1984!

Nhân ngày Valentine và nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày hi sinh anh dũng của đôi tình nhân Hoàng Thị Hồng Chiêm và Bùi Anh Lượng, 17/2/1979, tôi xin có vài dòng văn vần bằng nước mắt kính dâng lên hương hồn cặp uyên ương yêu nước ấy. Chúc tình yêu và lòng yêu nước nồng nàn của họ mãi mãi trở thành bất tử!

Valentine cho Liệt Nữ Hoàng Thị Hồng Chiêm
(Kính dâng hương hồn đôi tình nhân Hoàng Thị Hồng Chiêm và
Bùi Anh Lượng nhân ngày Valentine và 35 năm ngày hi sinh của họ)
 
Ai đã xoá tên
Hoàng Thị Hồng Chiêm(1)
khỏi trường xưa yêu dấu?
Nơi các em thơ
35 năm nay hát vang bài
"Bài ca trên đỉnh Pò Hèn"(2)
thắm máu
Để giữ vững biên cương thân yêu
cho Tổ Quốc bình yên!

Ai đã cố xoá tên
dưới bệ tượng đài
Hoàng Thị Hồng Chiêm?
Khi mọi người đều đã quen 
dáng đứng Việt Nam của chị!
Sáng 17 tháng 2
trên đỉnh Pò Hèn
nhằm thẳng vào lũ giặc Tàu thổ phỉ!
Chỉ với khẩu CKC(3)
và những quả lựu pháo
trút hờn căm!

Khi hàng chục vạn tên giặc Tàu
đồng chí của Chiêu Thống
mò sang
Giết người dã man
tàn phá bản làng
cướp của!
Đột ngột tràn lên đỉnh Pò Hèn
lúc cô mậu dịch viên
Hoàng Thị Hồng Chiêm
đang ngủ
Đã vùng dậy với lựu đạn và khẩu CKC
cảnh giới để các anh
mở đường máu bò lên!

Khi giặc Tàu
Tăng tiếp viện quân thêm
Quyết chiếm lấy Đồn Pò Hèn bằng được
Chị lại tiếp đạn
bắn yểm trợ cho anh em
trước sự ngạc nhiên của người yêu(4)
và kẻ thù xâm lược
Ôi! Không thể nào tin
cô mậu dịch viên đẹp xinh
đã làm cho quân giặc phải kinh hoàng!
Dù đã ba lần bị thương
vẫn bám trụ kiên gan!
Dù bị mất máu quá nhiều
vẫn tiếp tục hạ gục thêm quân giặc
Cùng Bùi Anh Lượng người yêu thề hi sinh
quyết không lùi nửa bước!
Ôi! Hoàng Thị Hồng Chiêm lìa đời
đã ngời sáng tấm gương soi!
Cho con cháu nghìn sau
cho dân tộc, giống nòi!

Nhân dân đã lấy tên
Hoàng Thị Hồng Chiêm
đặt tên cho trường học!
Trường THCS của các em
trên quê hương Bình Ngọc
Nhưng bè lũ Chiêu Thống thời nay
sợ phật ý thiên triều
Đã bắt đổi lại tên trường,
xoá tên người liệt nữ mến yêu!
Khỏi bức tượng đài
từ năm 1984 đến nay
mang dáng hình của chị!
Ai đã giữ biên cương cho các người
được xưng vương
hỡi lũ xuất thân vượn khỉ?
Ai đã giữ biển cả, đất rừng
để các người mang đổi lấy đô la?  
Đem về nuôi vợ nhỏ, con to
mở trang trại, xây nhà…
Hỡi bọn "đầy tớ của nhân dân"
những đứa con hoang ít học!

Nếu các người khôn hồn
thì hãy trả lại tên
Hoàng Thị Hồng Chiêm
cho mái trường Bình Ngọc!
Mau khắc lại tên
Hoàng Thị Hồng Chiêm
dưới bệ đá của tượng đài!
Đừng để con cháu đời sau
khinh bỉ các người
là một lũ quái thai!
Hèn với giặc
ác với dân
hỡi bồ đoàn Lê Chiêu Thống!

Dưới đã có đất dày
trên trời cao lồng lộng!
Nhân dân sẽ đánh kẻ chạy đi
không đánh người chạy lại
với tổ tông!
Nhưng nếu các người đã cam tâm
theo cộng sản Tàu
mà bán rẻ núi sông!
Thì xin mời các người
xéo ngay sang đất Trung Hoa mà ở!
Để cho dân tộc Việt Nam
được tự do hít thở
Được làm người
có cả Dân Chủ, Nhân Quyền
có Độc Lập, Hoà Bình
trên dất mẹ bình yên!

Ngày 14 tháng 2 lại về
Hoàng Thị Hồng Chiêm trên đỉnh Pò Hèn
đang ngóng đợi người thương!
Để đón đoá hồng Valentine
từ tay chàng trai Bùi Anh Lượng
Máu của các anh chị ngày 17/2 đổ xuống  
Đã tô thắm đoá hoa Valentine hôm nay
tràn ngập tuổi yêu đương!
Giữa mùa xuân Giáp Ngọ đang về
nơi Hải Đảo, Biên Cương…


Hà Nội, Valentine 2014
Ts. Đặng Huy Văn


CHÚ THÍCH & TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1)  Hoàng Thị Hồng Chiêm, hy sinh 17-2-1979 để bảo vệ biên cương
(2). Bài ca trên đỉnh Pò Hèn || Bài ca đi cùng năm tháng
(3).  Hoàng Thị Chiêm nhân vật trong bài ca trên đỉnh Pò Hèn tháng 2/1979
(4). Hạ sĩ Bùi Anh Lượng là một chiến sĩ công an biên phòng trẻ tuổi tại Đồn Pò Hèn là người yêu của chị Hoàng Thị Hồng Chiêm, cũng đã hi sinh trên đỉnh Pò Hèn trong trận đánh trả giặc Tàu ngày 17/2/1979

Monday, February 10, 2014

NGHĨA TRANG LIỆT SĨ NƠI BIÊN GIỚI

Đặng Huy Văn: Chỉ còn đúng một tuần lễ nữa là tới dịp kỷ niệm tròn 36 năm ngày bọn bành trướng Bắc Kinh dùng hơn 50 vạn quân tràn sang xâm lược 6 tỉnh Biên Giới phía Bắc của nước ta gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai, Lai Châu. Khoảng 5 giờ sáng ngày 17/2/1979, hàng chục vạn quân Trung Quốc đã bất ngờ tràn qua Biên Giới giết chết hơn 10 ngàn dân thường trong đó chủ yếu là ông bà già, phụ nữ và trẻ con. Đặc biêt, vì giặc Tàu tấn công đột ngột vào lúc sáng sớm nên nhiều đơn vị biên phòng và tự vệ của ta đang ngủ đã bị giặc Tàu sát hại một cách dã man. Nhiều người nay vẫn chưa tìm thấy xác do bị thất lạc, hoặc do đường biên giới bị giặc Tàu lấn vào đất ta nên nhiều xác còn kẹt lại trên phần đất đang bị Trung Quốc chiếm đóng.
Sau năm 1979, các tỉnh biên giới đã xây các Nghĩa Trang Liệt Sĩ cho bộ đội ta hi sinh trong cuộc Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung để qui tập gần 10 ngàn liệt sĩ. Nhưng thật kỳ lạ là từ sau Hội Nghị Thành Đô 1990(1), đảng ta đã cấm không cho nhân dân vào thắp hương và viếng mộ các liệt sĩ, kể cả vào ngày thương binh liệt sĩ 27/7 và ngày 17/2 hàng năm vì sợ mất lòng "các đồng chí" lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc "anh em". Ngay tại đài tưởng niệm Liệt Sĩ Ba Đình Hà Nội, ngày 17/2/2013 năm ngoái, các cảnh vệ cũng đã nhận được mật lệnh ngăn không cho đồng bào ta mang vòng hoa vào thắp hương kính viếng các hương hồn Liệt Sĩ chống Tàu tại đó.

Trong khi các Nghĩa Trang Liệt Sĩ nơi Biên Giới phía Bắc giờ đây đã hoang tàn không được tu bổ đang ngày càng xuống cấp nghiêm trọng thì đồng chí Chiêu Thống họ Nguyễn vừa giao cho PTT Hoàng Trung Hải 25 tỷ đồng để xây dựng lại một nghĩa trang lính Tàu tại thị xã Mường Lay có 52 mồ giặc. Thật đau thương và oan khuất cho 10 ngàn Liệt Sĩ Việt Nam đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ Biên Giới Phía Bắc của Tổ Quốc trước giặc cộng sản Trung Quốc xâm lược!

NGHĨA TRANG LIỆT SĨ NƠI BIÊN GIỚI

(Kính viến hương hồn các Liệt Sĩ chống Tàu)

Nghĩa Trang Liệt Sĩ nơi Biên Giới
Xuân về buồn lắm các anh ơi!
Bên mộ chỉ nhành hoa sim tím
Lưu luyến đời trai trẻ một thời!

Nằm giữa cõi thiêng nơi vắng vẻ
Còn chăng xác lạc ở ven đồi?
Heo hút mồ hoang chờ tiếng mẹ
Ôm nắm đất cằn khóc "con ơi!"

Các anh nằm lại từ năm đó(2)
Ba sáu mùa xuân đã qua rồi
Hỏi cấp tỉnh huyện nào dòm ngó
Ai người hương khói cắm hoa tươi?

Từ ngài Chiêu Thống mang họ Đỗ
Nguyên cai giết mổ lợn một thời
Sợ hãi thiên triều sang xiết nợ
Không còn tiền cắc để mua xôi!

Đến đời Chiêu Thống thời Lê khả
Biển đảo đất liền ký nhượng không
Dâng biển, trao đất nhằm khẳng định
Đảng trên Tổ Quốc - đảng là ông!

Đến đời Chiêu Thống Nông mới lạ
Đón giặc Tàu sang bán đất rừng
Bô xít Tây Nguyên Nông nhượng cả
Để Tàu ban tước sắc phong vương!

Đến Chiêu Thống Nguyễn nay kiên quyết
Cấm dân Biên Giới viếng nghĩa trang
Bởi các anh xua "tình đồng chí"
Đuổi "tình hữu nghị hở môi răng"!(3)

Cho nên năm ngoái người viếng mộ
Đã bị Nguyễn sai cả công an
Không cho đồng bào lên biên giới
Nơi sau 79 dựng Nghĩa Trang

Mà nay lại cấp hàng chục tỷ
Xây lại nghĩa trang của lính Tàu(4)
Xưa sang "giúp đảng" rồi bỏ xác(5)
Bởi nể "cha già" quý thân Mao!

Còn xác lính ta thôi đành chịu
Quạ tha, chó gặm cả đầu lâu
Ai bảo bắn Tàu năm 79
Làm buồn lòng "bác", đảng mình đau…

Đứng trước Nghĩa Trang tôi bật khóc
Dù chẳng anh em chẳng họ hàng
Mà tim ứa máu lòng quặn thắt!
Bởi ai đời mẹ trắng khăn tang?


Hà Nội, 10/2/2014
Ts. Đặng Huy Văn


(1).  ĐỌC LẠI HỒ SƠ BÁN NƯỚC: HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ 1990
 
(2). Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 – Wikipedia tiếng Việt
(3). "Bác" Hồ từng nói: "Tinh hữu nghị Việt Trung như môi với răng, môi hở thì răng lạnh".

(4).  Phó thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải đổ tiền tỷ xây nghĩa trang ...
 
(5). Trong thập niên 1960, "bác" Hồ đã mời 32 vạn bộ đội Trung Quốc sang đóng quân trên Miền Bắc Việt Nam để giúp ta đánh Mỹ dưới danh nghĩa "sang giúp làm đường".