Friday, August 3, 2012

Phái đoàn Viện Hóa Đạo xuống Bạc Liêu lo tang lễ Phật giáo cho bà Đặng Thị Kim Liêng

THÔNG CÁO BÁO CHÍ NGÀY 3.8.2012

Phái đoàn Viện Hóa Đạo xuống Bạc Liêu lo tang lễ Phật giáo cho bà Đặng Thị Kim Liêng, mẫu thân chị Tạ Phong Tần


2012-08-03 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 3.8.2012 (PTTPGQT) - Ngày 30.7 vừa qua khi hay tin bà Đặng Thị Kim Liêng, mẫu thân chị Tạ Phong Tần, tự thiêu trước trụ sở Tỉnh ủy Bạc Liêu, Hòa thượng Thích Viên Định, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), liền có thư Phân ưu.

Hòa thượng viết: «Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng tự thiêu tại khu hành chánh Thành phố Bạc Liêu để phản đối Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bắt giữ, giam cầm oan ức con gái Bà là cô Tạ Phong Tần và gần đây còn liên tục bị công an khủng bố, đe doạ gia đình bà một cách nghiêm trọng. Đây là nỗi đau thương, mất mát rất lớn đối với gia đình cô Tạ Phong Tần.


 Hòa thượng Không Tánh hướng dẫn linh cữu về Nghĩa địa – Hình PTTPGQT
Hòa thượng Không Tánh hướng dẫn linh cữu về Nghĩa địa – Hình PTTPGQT


Hạ huyệt – Hình PTTPGQT
Hạ huyệt – Hình PTTPGQT

«Tuy nhiên, việc tự thiêu của Cụ Bà có thể làm ngọn đuốc thức tỉnh nhân tâm đồng thời đánh động thế giới về ách nạn độc tài, độc đảng đã thống trị trên đất nước Việt Nam suốt hơn 60 năm qua. 

«Viện Hoá Đạo GHPGVNTN cùng chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử thành kính chia buồn cùng tang quyến cô Tạ Phong Tần, và sẽ gửi phái đoàn chư Tăng đến phúng điếu, cầu siêu cho hương linh Cụ Bà. Cầu nguyện chư Phật tiếp dẫn hương linh Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng vãng sanh về cảnh giới An lành».
 

Chư Tăng Viện Hóa Đạo tiến hành nghi thức lễ tang tại huyệt mộ bà Đặng Thị Kim Liêng -  Hình PTTPGQT
Chư Tăng Viện Hóa Đạo tiến hành nghi thức lễ tang tại huyệt mộ bà Đặng Thị Kim Liêng - Hình PTTPGQT

Do bà Đặng Thị Kim Liêng là Phật tử, nên sáng hôm qua, 2.8, Viện Hóa Đạo đã đề cử Hòa Thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Từ Thiện, cùng với hai Đại đức Thích Đồng Minh, Thích Nhật Thành và Phật tử đến tại tư gia cụ bà Đặng Thị Kim Liêng ở 38/9, đường Hậu Hòa Bình, Khóm 6, Phường 1, Thành phố Bạc Liêu, để chia buồn cùng tang quyến và làm lễ cầu siêu tiễn đưa hương linh cụ bà đến nơi mộ huyệt.

Được biết từ ngày 31.7 đã có hàng trăm công an phong tỏa quanh nhà bà Liêng cho đến khuya, phòng những biến động do các phái đoàn thân hữu với chị Tạ Phong Tần đến phúng điếu. Cuộc an táng ngày 2.8, đã có trên 200 công an địa phương và nhiều công an từ Saigon gửi xuống theo dõi lễ tang.

Phái đoàn Viện Hóa Đạo do Hòa thượng Thích Không Tánh hướng dẫn đã vượt bao khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ tôn giáo đối với hương linh người quá vãng.

bản dịch Phật Quang Đại Từ điển của Hòa thượng Thích Quảng Độ




LỜI GIỚI THIỆU
bản dịch Phật Quang Đại Từ điển
của Hòa thượng Thích Quảng Độ 



2012-08-03 | Võ Văn Ái | Quê Mẹ 

Vừa thoát ách Pháp thuộc, liền bị rơi ngay vào chiến tranh rồi tranh chấp đến nay, dồn dập suốt 67 năm ròng. Nước ta chưa hình thành Hàn lâm viện để định chế ngữ văn trên bước tiến hóa của nhân loại, và sự đổi thay chuyển biến mỗi ngày trong cộng đồng dân tộc. Long đong theo những loạn động của thời thế, văn hóa và ngữ học mắc phải hệ lụy chưa biết ngày nào thoát thân.

Riêng trên phương diện làm từ điển hay tự điển thôi, đủ thấy học thuật Việt Nam giẫm chân tại chỗ hàng thế kỷ. Làm sao người Việt nắm bắt học thuật, văn hóa, tư tưởng, khoa học… nước ngoài tiến bộ vùn vụt qua các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hán, Phạn, v.v… nếu không có các bộ từ điển ngoại ngữ trong tay ? Cho tới nay, hầu như làm từ điển còn là nỗ lực cá nhân, những cá nhân thao thức, tự phát và trí tuệ. Từ thập niên 30, thế kỷ trước, người lập công đầu làm Tự điển Pháp Việt và Hán Việt là cụ Đào Duy Anh. Ông chỉ một mình trước tác, dịch thuật với sự giúp đỡ làm phích của cụ bà hiền nội. Tuy dịch các từ Pháp, Hán, nhưng với óc sáng tạo của cụ, ngôn ngữ Việt bỗng phong phú lên bội phần trên mọi lĩnh vực. Nhờ những từ ngữ đối chiếu mới mẻ ấy, mà học thuật Việt Nam chuyển mình bước lên đường tân học, bước chân vào thế giới văn minh. Giúp người Việt diễn tả các hoạt động tiến hóa của loài người. Từ đó trở về sau, có thêm không quá mươi cuốn tự điển Pháp Việt khác của những tác giả khác, nhưng đa phần chỉ là chiếu sao, rút từ hay ảnh hưởng lời chữ của Đào Duy Anh. Ít thấy chất sáng tạo ngôn ngữ hay bổ sung các từ mới khi cuộc sống và thời đại nẩy sinh không ngừng. Về từ điển Phật học ở nước ta chỉ sơ sài mấy cuốn. Khởi từ thập niên 60 có cuốn Phật học Tự điển dày 1530 trang của Cư sĩ Đoàn Trung Còn. Hai mươi năm qua có thêm cuốn Tự điển Phật học Việt Nam của Hòa thượng Thích Minh Châu và Minh Chi dày 818 trang do Nhà xuất bản Khoa học xã hội in năm 1991, Từ điển Phật học Hán Việt, hai tập, dày 2127 trang, dựa theo bộ Thực dụng Phật học Từ điển của Lô Quán Cao và Hà Tử Bồi xuất bản tại Thượng Hải, Trung quốc. Bộ này do Hòa thượng Kim Cương Tử chủ biên với 11 soạn giả của Hội Phật giáo Nhà nước thực hiện ở Hà Nội từ năm 1992 đến 1994. Sự thật chỉ có 10 soạn giả, vì họ ghi bừa thêm tên Hòa thượng Thích Quảng Độ, dù chẳng bao giờ ngài liên hệ, cộng tác. Bộ này dịch thuật sai sót, nhầm lẫn rất nhiều.

Không như cách làm việc ở các nước Tây phương. Lấy hai cuốn Từ điển tiếng Anh và tiếng Pháp làm ví dụ. Cuốn Từ điển Oxford tiếng Anh chiếu theo ấn bản thứ 3 đã có sự hợp lực của 300 nhà bác học, nghiên cứu, phụ giảng ngoại ngữ, tham vấn, với ngân qũy 35 triệu đồng bảng Anh (tương đương 55 triệu Mỹ kim) để thực hiện. Cuốn Từ điển Robert của Pháp, vượt cuốn Larousse một bực, xuất hiện đầu thập niên 50 thế kỷ XX, với một bộ biên tập 50 chuyên gia ngôn ngữ. Tái bản hằng năm, bổ sung chữ mới, chữ lạ.

Phật Quang Đại Từ điển bản chữ Hán do hơn 50 học giả Phật giáo thuộc Phật Quang Đại Tạng kinh Biên tu Ủy viên hội ở Đài Loan biên soạn trong mười năm 1978 – 1988.

Thập niên 30 ở thế kỷ trước, ông Đào Duy Anh cặm cụi làm việc một mình cho bộ Từ điển Pháp Việt dày 1958 trang, và Hán Việt tự điển 610 trang. Nhưng thời ấy là thời hòa bình dù còn thuộc Pháp. Sách vở nghiên cứu dễ mua, dễ kiếm. Ngày nay, Hòa thượng Thích Quảng Độ một mình dịch gần 8000 trang từ điển trong chốn lao tù, bức bách. Hầu như lịch sử mới có một trường hợp này. Chỉ phong thanh tin cụ Huỳnh Thúc Kháng học thuộc lòng cuốn tự điển Larousse nhỏ, thời gian Pháp giam cụ ở Côn đảo.

Phật Quang Đại Từ điển mà Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch thuật gồm 6 cuốn, với 7 triệu chữ giải thích các từ đề mục. Hòa thượng bắt đầu vào việc tháng giêng năm 1990, hoàn thành cuối năm 1997. Cần lưu ý 1990 là năm Hòa thượng còn bị nhà nước Cộng sản Việt Nam lưu đày ở xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình miền Bắc. Lệnh trục xuất khỏi thành phố Saigon đưa về nguyên quán quản chế do Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh đọc ngày 25.2.1982, với tội danh "làm tôn giáo là làm chính trị". Qua năm 1992, không thấy nhà nước xác định thời hạn quản chế hay đưa ra xét xử, Hòa thượng viết thư thông báo nhà đương quyền ; kỳ hạn trong vòng một tháng Hòa thượng sẽ tự sắp xếp trở về nơi trú xứ ở Saigon. Đúng kỳ hạn, Hòa thượng lấy tàu lửa trở về Nam, tá túc nơi Thanh Minh Thiền viện, và tiếp tục công trình dịch thuật Phật Quang Đại Từ điển. Cuối năm 1994, nạn lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long khiến cho nửa triệu người sống cảnh màn trời chiếu đất. Nhân danh Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng dẫn đầu phái đoàn cứu trợ đem thực phẩm, thuốc men, áo quần phân phát cho đồng bào nạn dân. Đến chuyến đi thứ ba, thì đoàn xe cứu trợ tám chiếc bị công an chận tại Saigon, bắt giam ngay một số chư Tăng và Cư sĩ trong phái đoàn. Sang ngày 4.1.1995 đến bắt Hòa thượng. Tòa án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh đưa ra xét xử hôm 15.8.1995, kết án Hòa thượng 5 năm tù và 5 năm quản chế, đưa ra giam ở Trại tù Ba Sao, Nam Hà, sau chuyển qua Trại tù B14, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì gần Hà Nội.

Đáp ứng yêu cầu của Hòa thượng, nhà đương quyền cho phép tiếp tục việc dịch thuật trong tù. Hòa thượng Thích Thanh Minh đi thăm nuôi, mang ra cho Hòa thượng bộ Phật Quang chữ Hán, 100 tập vở học trò và 100 cây bút Bic. Dịch xong tập vở nào, quản giáo đến tịch thu, viết biên nhận tập vở mới. Bút Bic nào hết mực, quản giáo đến lấy đi, viết biên nhận lãnh cây bút mới.

Do công luận quốc tế và LHQ lên tiếng, cùng sự vận động của Phật tử trong và ngoài nước, Hòa thượng được ân xá tháng 10 năm 1998. Trước ngày rời nhà tù, Hòa thượng yêu sách trả lại các tập vở dịch thuật bộ Phật Quang Đại Từ điển. Quản giáo nói phải viết đơn xin mới được. Hòa thượng đáp, đây là công trình của tôi, không ai làm đơn xin lại tài sản mình bao giờ. Thế là Trại B14 ở Thanh liệt tiếp tục nhốt tù tất cả các tập vở thủ bút dịch thuật kia.

Về Saigon, Hòa thượng bỏ ra hai năm để làm lại việc đã xong trong thời gian lao lý.

Phải đọc công trình dịch thuật Phật Quang Đại Từ điển mới thấy học thuật Hòa thượng thâm viễn, ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, và thù ứng với các từ Hán, Phạn tương đương. Tinh thông, nhuần nhuyễn, thanh thoát qua từng câu văn. Không còn là một tác phẩm dịch thuật, mà là tác phẩm văn chương trong lĩnh vực triết học và tư tưởng Phật giáo qua ngôn ngữ Việt. Vừa tường giải, vừa đối chiếu, mỗi từ mục là một bài thâm nhập giáo lý siêu thoát nhưng thực chứng của đạo Phật.

Mỗi từ hay mục từ đều kèm theo chữ Hán và chữ Phạn để người đọc nào quen thuật ngữ Hán hay Phạn dễ thâm nhập khi đối chiếu tiếng Việt. Thử lấy một nhóm từ mà ta thường tụng đọc, hay nghe nói, tuy có khi chưa hiểu tận nghĩa :Bát Nhã Ba La Mật. 

Không chỉ là chữ đối chữ, vào Phật Quang Đại Từ điển tập I, trang 464, sẽ được giải thích như sau :

Bát nhã ba la mật

Thật rốt ráo cho những ai am hiểu Phật giáo, lại được thâm nhập, khám phá thêm các bộ kinh khác tường giải mục từ. Với những ai Phật học còn sơ cơ, sẽ thấy hiện ra một số từ rối rắm như Thanh văn, Bích chi Phật, Ba la mật, pháp, nhất thiết chủng trí, Bồ tát, tự tính, nhân quả, nghiệp, v.v…, thì hẳn tiếp tục tra cứu các từ ấy trong toàn bộ 7 triệu chữ Phật Quang Đại Từ điển, tất sẽ được thấu đạt, hiểu ra các điều tưởng như kỳ bí, tối tăm.

Ngoài những từ ngữ, đề mục thuộc phạm vi Phật pháp, các bộ kinh qua các trường phái Bắc tông, Nam tông, Mật tông, v.v…, các tranh tượng Phật giáo ; Từ điển còn bao hàm các danh hiệu chư Phật, chư Bồ tát, hành trạng các vị cao tăng, thiền sư trong lịch sử Phật giáo châu Á, cùng những công trình xây cất danh lam, chùa viện thâm nghiêm, hùng vĩ, những vết tích lịch sử từ thời đức Phật trải qua các thời đại. Chỉ lấy một ví dụ ngôi chùa lộ thiên kỳ vĩ Borobudur ở đảo Java bên Nam dương, làm tốn biết bao mực nghiên cứu của các học giả phương Tây, được Phật Quang Đại Từ điển giải thích :

Bà La Phù Đồ / Borobudur, dịch ý là Tinh xá trên núi. Cũng gọi là Ba la phù đồ, Xà ba la phù đồ. Là thánh địa Phật giáo cực kỳ tráng lệ, ở thôn Bà la phù đồ thuộc Mã cát lãng, trung bộ đảo Java của Ấn ni (Indonesia), có thể sánh ngang với Vạn lý trường thành ở Trung quốc, Kim tự tháp của Ai cập, Đế thiên đế thích ở Cao miên, lăng Thái cơ ma cáp (Taj Mahal) ở Ấn độ, là một trong những kiến trúc vĩ đại của thế giới. Công trình này được xây dựng vào thế kỷ thứ IX Tây lịch, dưới triều vua Tái lãng độ lạp tư, trải 80 năm mới hoàn thành. Bản thân kiến trúc là một bậc thềm giống như Kim tự tháp. Bề dài bề ngang đều 123 mét, cao 42 mét, sau vì ngọn tháp nhọn Đại Phật khám bị sét đánh đổ, nên nay độ cao chỉ còn 31 mét, chia thành mười tầng. Hình thức kiến trúc biểu lộ sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa và Mật giáo, toàn bộ khu kiến trúc cũng như một Mạn đồ la vĩ đại, dưới rộng trên nhọn, không có cửa ra vào, đàn tế và chỗ ngồi cố định.

Là chùa lộ thiên, phân biệt tầng trên, tầng giữa, tầng dưới, tượng trưng cho Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới : tầng nền bằng với mặt đất, do 160 khối đá bản, điêu khắc nổi, miêu tả Dục giới cấu thành, dùng thủ pháp có tính hí kịch để biểu hiện sự làm ác ở hạ tầng, đậm đà ý vị quả báo thiện ác khuyên răn người đời. Thuận theo phương hướng… v.v… và v.v… giải thích còn dài nữa (xin xem tiếp ở tập I, tr 235).

Tưởng các sách hướng dẫn du lịch không thể viết rõ hơn về một danh lam thắng cảnh kỳ vĩ như Borobudur, nhất là không thể hiểu sâu các biểu tượng Phật giáo cùng những nhánh giáo lý đạo Phật thể hiện trên mặt đá phù điêu, chạm khắc như một Tạng kinh sống của nghệ thuật thứ bảy, nhưng đã thực hiện từ mười hai thế kỷ trước.

Người ở xa nước, không được gần gũi chư Tăng Ni, Thiện tri thức thông hiểu giáo lý, có bộ Phật Quang Đại Từ điển trong tay sẽ như được sống bên vị Thầy cao cả về đường Phật lý. Và điều chắc chắn, sẽ không bao giờ bị xa lìa với chân ngữ của đạo Phật, hay bị suy diễn đạo Giác ngộ thành loạn tưởng của tà giáo vào thời Mạt pháp hôm nay.

Tiền đồ Phật học Việt Nam có phát huy, tiến bộ chăng, phần lớn sẽ nhờ vào bộ Phật Quang Đại Từ điển bản dịch Việt văn của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Và cũng sẽ là tiền đề cho sự rộ nở của triết học, của tư tưởng Việt Nam còn sơ khai hôm nay. Nhớ lại hồi thế kỷ VII Tây lịch, thánh tăng Huyền Trang bỏ 15 năm trường, xuyên sa mạc Gobi hoang vắng, hiểm nghèo, sang Ấn độ thỉnh Kinh Phật. Về nước ngài phiên dịch ra Hán văn dưới thời Đường. Tiếp sau những dịch phẩm của ngài Kumârajîva (Cưu ma la thập) đời Đông Tấn thế kỷ V, các bản dịch của ngài Huyền Trang với óc sáng tạo dồi dào, chữ nghĩa độc đáo, thâm huyền, làm rộ nở, phong phú, đổi mới văn học, ngôn ngữ và tư tưởng Trung quốc.

Sẽ lợi ích biết bao cho hàng chục nghìn Tăng, Ni, hàng triệu người học Phật trong nước, nếu Phật Quang Đại Từ điển được xuất bản tại Việt Nam. Thế nhưng nhà đương quyền đặt điều kiện muốn in phải xóa bỏ tên dịch giả, Thích Quảng Độ. Vì vậy, năm 2000, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh thuộc Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc cho xuất bản lần đầu tại Đài Loan. Nay đã tuyệt bản. Do nhu cầu học hỏi của Phật tử Việt Nam trên năm châu đòi hỏi, và được Hòa thượng Thích Quảng Độ ủy quyền, tôi hân hoan thúc đẩy Nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris ấn hành Phật Quang Đại Từ điển vào mùa thu năm nay, 2012, gồm 6 tập, dày 7374 trang.

Nhân Hòa thượng dặn tôi viết lời giới thiệu khi tái bản, nên có đôi lời thảo vội trên đây trong những ngày nằm bệnh, thêm nữa nhà in thúc hối để lên khuôn ấn loát.

Phật lịch 2556, dương lịch ngày 7.6.2012
Paris, Bệnh viện Saint Joseph
Võ Văn Ái

http://bit.ly/OOGFMZ


Thursday, August 2, 2012

Tại sao viết về chính trị?


Nguyễn Hưng Quốc

các cuộc gặp gỡ với bạn bè cũng như với độc giả trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, một trong các câu hỏi tôi nghe nhiều nhất là: Tại sao mấy năm gần đây tôi lại quay sang viết về chính trị, hơn nữa, càng ngày càng viết nhiều về chính trị?

Câu trả lời của tôi, rất đơn giản, thế này: Với người cầm bút lưu vong, việc viết về chính trị là điều bình thường. Gần như là tự nhiên. Đáng lẽ nó không gợi nên bất cứ một thắc mắc nào cả.

Có ba lý do chính.

Thứ nhất, lưu vong, đặc biệt lưu vong của người tị nạn, tự bản chất, là một sự lựa chọn chính trị. Có người ra đi vì chính trị, vì những đe dọa bắt bớ, tù đày, thậm chí, hãm hại; nhưng cũng có người ra đi chỉ vì những khó khăn và bế tắc về kinh tế; nhưng dù bất cứ lý do gì đi nữa, việc quyết định rời khỏi đất nước để sống hẳn ở hải ngoại cũng vẫn là một lựa chọn mang tính chính trị. Đó không phải chỉ là sự lựa chọn giữa hai công việc hay hai địa điểm cư trú mà còn là sự lựa chọn giữa hai quốc gia, hai thể chế, hai tương lai, hai cái nơi mình sẽ được nằm xuống trong chuyến đi lần cuối. Với bất cứ người nào, sự lựa chọn như thế cũng đều quan trọng. Với người Việt Nam, vốn không hề có truyền thống phiêu lưu và vốn có tâm lý gắn bó với cái gọi là quê cha đất tổ, sự lựa chọn ấy lại càng quan trọng. Chắc chắn đó là một trong những lựa chọn quan trọng nhất trong đời.

Thứ hai, trước một lựa chọn như thế, người ta không thể không dằn vặt, không day dứt. Sự dằn vặt và day dứt ấy sẽ còn lại mãi. Như một ám ảnh không nguôi. Một trong những nét tâm lý nổi bật của những người lưu vong được giới nghiên cứu đề cập đến nhiều nhất là tâm lý bất an, lúc nào cũng thấy lạc lõng, không bám vào một không gian nhất định nào cả. Với quê gốc, đã xa lắc, người ta không muốn hoặc không thể trở về hẳn. Với quê khách, nơi người ta đang sống và có lẽ sẽ sống đến cuối đời, người ta mãi mãi thấy xa lạ. Người ta sống ở đây mà không ngớt hướng về bên nọ. Tâm lý của người lưu vong là tâm lý ở-giữa (in-between). Giữa hai quốc gia và hai nền văn hóa. Giữa quá khứ và hiện tại. Giữa hoài niệm và ước mơ. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những người lưu vong, thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng bị ám ảnh về chính trị ở quê nhà. Cứ gặp người lưu vong là lại nghe chuyện chính trị.

Trước khi chế độ cộng sản ở Nga và Đông Âu sụp đổ, những người lưu vong đến từ Nga và Đông Âu, ở Tây phương, cũng túm tụm với nhau, trong các quán cà phê, ngày này sang ngày khác, bàn chuyện chính trị như thế. Người Việt Nam cũng không khác. Ghé bất cứ quán cà phê Việt Nam nào ở ngoại quốc, đặc biệt ở California, chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy những người khách quen thuộc, dường như đến đó mỗi ngày, chỉ để bàn mỗi một chuyện: chính trị Việt Nam. Mà đó hẳn không phải là ngoại lệ. Cứ quan sát các bữa ăn chung với bạn bè trong nhà mà xem. Đề tài phổ biến nhất cũng vẫn là chuyện chính trị. Có thể nói, rời khỏi quê hương, bất cứ người lưu vong nào cũng bị siết chặt bởi vòng kim cô chính trị. Không thể thoát được.

Thứ ba,
chính trị không phải chỉ là một chọn lựa bước đầu hay một ám ảnh không dứt; với người lưu vong, chính trị còn gắn liền với ý niệm về bản sắc, nghĩa là, nói cách khác, chính trị trở thành một yếu tố có tính bản thể luận để định nghĩa mỗi người, để giải thích lý do tại sao người ta lại sống (và chết) ở đây chứ không phải là bất cứ nơi nào khác. Ngày xưa, Aristotle từng nói: con người là một con vật chính trị. Câu nói ấy càng đúng với người lưu vong: Mỗi người lưu vong nhất thiết phải là một con vật chính trị. Người lưu vong nào, nhất là những người lưu vong thuộc thế hệ thứ nhất, tuyên bố mình không quan tâm đến chính trị, không hề nghĩ đến chính trị, người ấy đang nói dối hoặc đang tự đánh lừa mình. Sự thực, khi bản sắc của họ được định nghĩa bằng chính trị; họ không thể thoát được chính trị. Trừ phi họ muốn tự phủ nhận chính họ.

Với ba lý do ấy, không có gì lạ khi một người cầm bút lưu vong bàn đến chính trị. Đó là phản ứng tự nhiên và bình thường. Với họ, chỉ có việc né tránh chính trị mới là một cố gắng đầy ý thức một cách không tự nhiên và không bình thường. Xin nói ngay: cái gọi là "không tự nhiên" và "không bình thường" ở đây nên được hiểu từ góc độ tâm lý. Chứ không phải là đạo đức học. Tức không gắn liền với hàm ý phê phán nào cả. Đó chỉ là một chọn lựa của từng cá nhân. Mỗi chọn lựa đều có những lý do nhất định. Trong một xã hội dân chủ, chúng ta hoàn toàn tôn trọng những lựa chọn như thế. Hơn nữa, từ góc độ văn học và nghệ thuật, không có chọn lựa nào đúng hơn chọn lựa nào. Người cầm bút chỉ nên được đánh giá ở kết quả cuối cùng: Tác phẩm. Và tác phẩm chỉ nên được đánh giá từ một tiêu điểm: thẩm mỹ.

Nói né tránh chính trị là một lựa chọn có ý thức cũng có nghĩa là muốn nói: Đó chỉ là chuyện bên ngoài. Sâu trong tiềm thức và lẩn khuất trong từng giấc mơ của mỗi người lưu vong bao giờ cũng có những con ma chính trị không ngừng gào thét.

Sự khác biệt giữa người này và người khác, cũng như, ở mỗi người, giữa thời điểm này và thời điểm khác, chỉ ở cách thế hành xử với những con ma ấy mà thôi.

http://bit.ly/NWKy18

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Xin tiễn biệt bà Liêng được trở về Cõi Phật!


Ts. Đặng Huy Văn

Ngày 30/7/2012, cư dân mạng cả trong và ngoài nước bất ngờ nhận được tin tự thiêu của bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của chị Tạ Phong Tần, một nhà báo tự do đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam đã được Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) trao giải thưởng vì nhân quyền năm 2011. Bà Liêng đã qua đời khi đang trên đường tới bệnh viện Chợ Rẫy để cấp cứu. Theo những người con của bà Liêng cho biết, trước khi quyết định tự thiêu cạnh trụ sở UBND TP Bạc Liêu, bà rất bức xúc vì con gái bà, chị Tạ Phong Tần đang bị giam giữ trái pháp luật và sắp bị đưa ra tòa xét xử ngày7/8, cùng với việc chính quyền Bạc Liêu đã cấp sổ đỏ cho kẻ đã chiếm dụng bất hợp pháp mảnh đất của gia đình bà mà bà khiếu nại nhiều lần nhưng không được chính quyền giải quyết.

Sáng nay, ngày 2/8/2012, gia đình cùng nhân dân sẽ tiễn đưa bà về cõi Phật nên tôi viết bài này như một nén tâm nhang kính viếng hương hồn người Phật tử đáng kính.

Xin tiễn biệt bà Liêng được trở về Cõi Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!
...
Bà Liêng ơi!

Hôm nay ngày 2/8
Cả nước yêu thương đưa tiễn trái tim bà
Về Cõi Phật nơi trời cao xanh thẳm
Để cứu người bất hạnh Việt Nam ta!

Xin bà lạy Đức Phật Tổ A Di Đà
Hãy thương lấy các con dân nước Việt!
Nếu phải tiếp tục sống lầm than
Xin Người cho được chết
Để cứu độ chúng sinh
Cùng phúc đẳng hà sa!

Xin các phật tử hãy tụng kinh
Đưa tiễn bà Liêng về Cõi Phật!
Cầu Quốc Thái Dân An
Cho cả nước Việt Nam ta!
Diệt hết lũ độc tài
Không còn phường tham nhũng
Đánh đuổi bọn bán nước buôn dân
Quét sạch giặc Tam Sa(*)
Để không còn những bà mẹ
Vì dân oan mà tuẫn tiết
Không còn những người yêu tự do
Bị bắt bớ, ra tòa!


Bà Liêng ơi!

Hôm nay không phải
Chỉ có Tạ Phong Tần đau
Mà tất cả chúng tôi đau!
Không phải chỉ có con cháu bà phẫn uất
Mà cả dân tộc này phẫn uất!
Cái chết của bà
Là tiếng kêu Thiêng Liêng nhất
Để 91 triệu dân cùng xiết chặt tay nhau
Đạp đổ chế độ tham nhũng độc tài
Tay sai của giặc Tàu xâm lược
Con thuyền dân chủ, tự do
Ngày cập bến chẳng xa đâu!


Bà Liêng ơi!

Con cháu bà hôm nay
Không còn nước mắt để khóc
Cho người mẹ, người bà
Đã quá đỗi thân thương!
Vì căm hận lũ quan tham
Từ trung ương đến mọi miền đất nước
Đang vì tiền mà tiếp tay cho kẻ gian
Khắp quận, huyện, thôn, phường...


Ngày 7/8 này

Tạ Phong Tần và các bạn chị sẽ ra giữa pháp trường
Dù mẹ đã mất nhưng vẫn còn dân cả nước yêu thương
Sẽ tiếp cho chị và bạn bè thêm sức mạnh
Để có thể hét thật to vào mặt lũ bất lương:

"Đã đảo những kẻ bán rẻ Biển Đông cho Hoa cộng!
"Những kẻ dày xéo dân ta trải mấy chục năm trời
"Giờ đã đến lúc bọn bay phải cáo chung cơ chế
"Tham nhũng, độc tài, thối nát tanh hôi!"


Bà Liêng ơi!

Xin chúc bà được bình an khi trở về Cõi Phật!
Từ những oan trái, bất công, gian dối của cõi người
Bà đã để lại cho đời Tạ Phong Tần đẹp nhất!
Người con gái nhân hậu, can trường
Đã chiếm trọn trái tim tôi!


Hà Nội, sáng 2/8/2012
Ts. Đặng Huy Văn

----------------------

(*) "Giặc Tam Sa": Ngày 24/7/2012, bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh đã ngang ngược ra mắt cái gọi là "thành phố Tam Sa" bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bất chấp Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc Hội thông qua ngày 22/6/ 2012 đã ghi ngay trang đầu: Hoàng Sa , Trường Sa là của Việt Nam.

Wednesday, August 1, 2012

Ý nghĩa xâu chuỗi hay tràng hạt


Thích Phước Thái

Hỏi: Là một Phật tử tu theo pháp môn niệm Phật, con thường lần tràng hạt để niệm Phật. Tuy nhiên, thú thật là con chưa hiểu rõ ý nghĩa của nó như thế nào. Tại sao phải xâu kết làm 108 hạt, mà không phải là 107 hay 109? Như vậy, 108 có ý nghĩa gì? Và tại sao khi niệm Phật, tay cần phải lần chuỗi? Nó có công dụng gì cho việc diệt trừ phiền não không?
Đáp: Tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện khác. Trong Phật giáo có vô số phương tiện. Mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.
Thí dụ như cái mõ, cái chuông, cái trống v.v… Điều quan trọng cần nêu ra là: Nương phương tiện để đạt cứu cánh, tức như nhờ nôm mà bắt được cá, nhờ ná mà bắn được chim. Nếu nói theo cung cách ngôn ngữ của nhà Thiền thì "kiến sắc minh tâm". Nói cách khác là: "nương sự để hiển lý, sự lý phải viên dung". Đó là cái chủ đích chính yếu mà Phật giáo nhắm tới và đó cũng là thái độ khôn khéo của người tu học Phật.

Câu hỏi thứ nhứt là tại sao người ta xâu chuỗi kết 108 hạt mà không phải 107 hay 109 ?

Xin thưa:  sở dĩ có con số 108, là vì người ta đem 6 căn, 6 trần và 6 thức cộng lại, thành ra thập bát giới (18) rồi nhân cho 6 món căn bản phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) thành ra có con số là 108 (18 x 6  = 108). Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi cũng xin được giải thích thêm một chút về con số 108 tượng trưng nầy.
Như chúng ta đều biết, trong khế kinh Phật có dạy, sở dĩ chúng sanh cứ trôi lăn mãi trong vòng sanh tử luân hồi, gốc từ ở nơi vô minh. Mà vô minh có ra, gốc từ ở nơi căn, trần và thức. Thường gọi chung là Thập bát giới.
Ba thứ nầy, nếu xét kỹ, thì chúng ta thấy, lỗi là ở nơi căn và thức, chớ trần (6 trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) không có lỗi gì cả, vì chúng chỉ là đối tượng nhận thức của căn và thức mà thôi. Khi căn (tức 6 căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với trần (6 trần nói trên) khởi thức (6 thức nói trên) phân biệt. Khi ý thức phân biệt lại cộng thêm 6 món căn bản phiền não vào. Nói rõ hơn là 6 món căn bản phiền não nói trên, chúng hợp tác cùng chung làm việc với Ý thức một cách rất chặt chẽ, đắc lực, nên mới có phân biệt tốt xấu, rồi sanh  tâm yêu ghét. Cái niệm yêu ghét phát sanh là gốc từ ở nơi: tham, sân, si. Đây là đầu mối của vô minh phiền não (vọng tưởng) .
Từ đó, mới tạo nghiệp để thọ khổ. Nếu nói một cách nghiêm khắc và ngắn gọn hơn nữa, thì như kinh Lăng Nghiêm, Phật có nêu ra: "luân hồi hay giải thoát, gốc từ ở nơi 6 căn mà ra". Như vậy, cho chúng ta thấy rằng, ba thứ nầy tối hệ trọng mà mỗi hành giả cần phải thẩm sát thật kỹ để đoạn trừ phiền não. Mà muốn đoạn trừ phiền não, thì hành giả cần phải có phương tiện, hay một pháp môn hành trì. Đối với người tu tịnh nghiệp, thì Phật Tổ đều dạy cần phải niệm Phật. Mà pháp môn niệm Phật, để đi đến nhứt tâm, thì bước đầu cần phải có phương tiện để cột tâm. Phương tiện đó, ngoài câu niệm Phật ra, còn cần phải có thêm tràng hạt để lần từng hạt theo mỗi câu hiệu Phật làm chuẩn cứ trong khi niệm Phật công cứ vậy.

Đến câu hỏi thứ hai, tại sao khi niệm Phật, tay phải lần chuỗi?

Xin thưa rằng: không phải nhứt thiết ai niệm Phật cũng lần chuỗi cả. Điều nầy, còn tùy theo căn tánh và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những liên hữu nào đã phát nguyện niệm Phật công cứ, theo lời chư Tổ Liên tông đã chỉ dạy, thì cần nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện.  Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng như chúng ta, tâm chưa thuần nhứt, còn dẫy đầy vọng tưởng tạp loạn, thì tốt hơn hết nên dùng phương tiện tay lần chuỗi, để khi niệm Phật dễ cột tâm hơn, như trên đã nói. Hơn nữa, chúng ta cũng thường nghe nói, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Rồi cũng trong kinh nói:"Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương". Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là để ghi nhớ số không lộn lạo vậy.

Đến câu hỏi thứ ba, nó có công dụng gì cho việc diệt trừ phiền não không?

Xin thưa: đương nhiên là có. Như trên đã nói, công dụng của nó chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, nghĩ xằng, tính bậy, chạy đông, chạy tây, thì đó chỉ là miệng niệm cho có niệm, chứ không thể nào kết quả định tâm được.
Mục đích chính của việc niệm Phật là để được định tâm. Vì niệm Phật là nhớ Phật, đằng nầy Phật không nhớ, mà nhớ những chuyện tào lao khác, niệm như thế, thì đâu có đúng ý nghĩa niệm Phật. Thế nên, muốn sớm mau hết phiền não, thì hành giả phải giữ tâm và tiếng cho hợp nhất và phải thường xuyên khắn khít nhau, đồng thời niệm câu hiệu Phật phải thật cho rành rõ. Trong quyển sách Hạ Thủ Công Phu niệm Phật, Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh có khuyến nhắc người niệm Phật bằng một bài kệ như sau:
Nam mô A Di Đà! 
Không gấp cũng không hưởn 
Tâm tiếng hiệp khắn nhau 
Thường niệm cho rành rõ 
Nhiếp tâm là định học 
Nhận rõ chính huệ học 
Chánh niệm trừ vọng hoặc 
Giới thể đồng thời đủ 
Niệm lực được tương tục 
Đúng nghĩa chấp trì danh 
Nhứt tâm Phật hiện tiền 
Tam muội sự thành tựu 
Đương niệm tức vô niệm 
Niệm tánh vốn tự không 
Tâm làm Phật là Phật 
Chứng lý pháp thân hiện 
Nam Mô A Di Đà! 
Nam Mô A Di Đà! 
Cố gắng hết sức mình 
Cầu đài sen thượng Phẩm.
Thích Phước Thái

người việt nam hèn hạ

Hanwonders

Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.


Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.


Cách đây đã lâu, tôi đọc "người trung quốc xấu xí" của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn "Người Mỹ xấu xí", "Người Nhật Bản xấu xí", rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là "cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…" & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?


Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng "thần tượng Su-Ju" của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?


Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.


Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng "cơm no, áo ấm". Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! "Doanh nhân là chiến sĩ thời bình". Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng "luật im lặng" của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là "lý tưởng Hồ Chí Minh" hay "lý tưởng cộng sản" nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là "phản động".


Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..


Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?


Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.


Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!


Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm "đầy tớ" của nhân dân!


Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.


Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách  của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?


Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…


Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.


Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.


Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.


Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.


Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.


Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.


Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.


Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.


Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!


… còn rất nhiều tin.


Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?


Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.


Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là "nền văn chương than khóc".


Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là "cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…" một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.


Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:

-          Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.

-          Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?

-          Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!


Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.


Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.


Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?


Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.


Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.


Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!

Nghe nói cụ Tản Đà có câu:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!

Cho nên quân ấy mới làm quan.


Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.


Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?


Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?


Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?


Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?

Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?


Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.


Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.


Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?


Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.  


Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam "cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…" đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?


Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là "Mỹ đã đến biển Đông", "bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn",.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã "dạy dỗ" cả đám chóp bu việt nam. "Đĩ" chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà "đĩ" như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?


Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.


Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.

Hanwonders

http://bit.ly/R76wO2