Saturday, June 9, 2012

Đóa sen quý hiếm TỊNH ĐẾ LIÊN

Đóa sen quý hiếm TỊNH ĐẾ LIÊN

Tịnh Đế Liên là đóa hai hoa sen nở trên cùng một cuống, được xem là loài sen đứng đầu về sự thanh tao thuần khiết, quý hiếm, biểu thị điềm lành và xưa kia dành tiến vua nên mới có tên "Tịnh Đế".

Sen Tịnh đế có nhiều cách giải thích về tên gọi, nhưng căn bản là 2 hoa sen nở trên cùng một cuống, và vì ít ai gặp nên được coi như một điềm lành, chỉ sự thịnh vượng sung túc may mắn. Bức ảnh hoa sen Tịnh Đế Liên này do kiến trúc sư Đoàn Đức Thành chụp tại Bắc Ninh năm 2011.
Sen Tinh Đế ngày xưa ở Đồng Tháp Mười rất nhiều, đi vào câu ca dao: "Bao giờ cho được thành đôi - như san Tịnh Đế một chồi hai bông". Ảnh do tác giả Kimchiho chụp tháng 8/2011.
Còn theo truyền thuyết Trung Quốc thì sen Tịnh Đế là hiện thân của tình yêu vì có một đôi nam nữ yêu nhau mà không thành, cùng nhau tự trầm ở hồ sen và sau đó hóa thành sen đôi. (Ảnh là sen Tịnh Đế Liên màu trắng tại Trung Quốc)
Khu vực huyện Thuận Thành và Lương Tài thuộc tỉnh Bắc Ninh được cho là nơi có thể tìm thấy hoa sen Tịnh Đế Liên, tuy nhiên cũng đã có người chụp được sen đôi tại hồ sen Tây Hồ.
Sen Tịnh Đế được tìm thấy tại Thuận Thành, Bắc Ninh. Hai hoa sen khá lệch nhau về kích cỡ nhưng vẫn cùng một cuống. Theo chủ đầm thì giống sen này nguồn gốc từ sen Tây Hồ.
Một bông Tịnh Đế khác được tìm thấy cũng ở huyện Thuận Thành do một người chủ đầm sen hái được mang lên chợ Quảng Bá.
Thấy rõ hai bông sen có chung một cuống.
Chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh sen Tịnh Đế là một loài riêng biệt
Chỉ có thể tạm kết luận rằng đây là một hiện tượng dị biến trên hoa sen, vì có thể tìm thấy loại sen này ở nhiều nơi khác nhau và và trên các loài sen ta, sen trăm cánh, sen trắng đều có.
Những khoảng khắc khá thú vị của tự nhiên với sen như chim chóc...
Một chú bọ ngựa giương càng trên đầu búp sen hồng.
Những bông lúa nặng trĩu hạt bao bọc cánh sen hồng - loài hoa với vẻ đẹp thanh tao thuần khiết được chọn là Quốc Hoa của Việt Nam.
Anh Tuấn

Luật Nhân Quả trong cuộc sống xã hội và khoa học

Luật Nhân Quả
        trong cuộc sống xã hội và khoa học



Luật Nhân Quả là một cuộc cách mạng tâm linh

Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín mù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giận nên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng kiến mới có được trời mưa. Mới đầu thì tế lễ bằng con gà không có hiệu quả, rồi đến con bò, đến khi sự cuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tế thần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày, đi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu.

Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý con người muốn. Ông vua dù có mướn thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thương dân, lấy thuế cắt cổ, lúc hết thời thì ngai vàng vẫn bị mất như thường. Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặp mắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và dân sẽ được hạnh phúc.

Khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài nhận ra luật nhân quả là nền tảng của thế giới tâm linh và vật chất. Mọi hiện tượng từ tâm lý đến vật chất đều có những sự liên quan vô hình rất chặt chẽ, đó là luật nhân quả. Luật nhân quả là sợi dây vô hình nối liền hai biến cố xuyên qua thời gian và không gian. Cho nên khi hiểu luật nhân quả, ta có thể thay đổi biến cố đó theo chiều thuận cho ta, thay vì phải lo sợ hối lộ hoặc cầu khẩn một vị thần linh tưởng tượng nào đó phù hộ cho ta hoặc thỏa mãn điều ta mong ước. Sự mê tín cuối cùng sẽ đưa đến sự thất vọng và mặc cảm tội lỗi (ta có tội nặng quá vị thần không giúp được).

Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh (spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.
 
Luật Nhân Quả và khái niệm không gian thời gian
 
Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiện của luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâm linh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vật chất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mới hiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vật chất làm mờ rồi rất khó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vài lần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đó nhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâm lý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sống mình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại, nếu anh ta cứ tiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táo bạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thế giới vật chất).

Như vậy, khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp (karma) rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thời gian thay đổi rất chậm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sống con người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấu xảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cải thiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểm ban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thì tuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệp thành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao và lòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàng với các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.

Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh (destiny) hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực (force) nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

Nhân-Duyên-Quả

Nghiệp (karma) là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người. Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp. Nghiệp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máy hoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả là những phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòng sông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nữa. Duyên là những yếu tố ở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăn cản hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả. Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai trò điều chỉnh (modulation) nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa (nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên), vài tháng ta sẽ có những cọng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc và làm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịch duyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạc thì hạt lúa sẽ mọc thành cọng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón. Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho ta kết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạt động như một mạng lưới nhện (web).

Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng (chain of events). Những yếu tố duyên tác động lên chuỗi phản ứng đó để cho ra nhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòng tham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa, không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mất môi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nên sâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO²) nên từ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và si không có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết chóc, si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đến quả dữ và gần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiên thay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng tham tiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhứt, sân (giận) có thể biến thành bực bội khi đệ tử quên chấp tay xá mình, và si là chấp vào thời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua. Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnh đó sẽ trở nên cảnh ưu phiền.

Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, si mà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn. Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh. Nếu tâm ta nuôi dưỡng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thể mà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọc càng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thức sự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàng rồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách "tụng kinh sống" hữu hiệu nhứt. Tụng kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từng hơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền hay tụng kinh sống là khi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham, sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rời bỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.

Nhân quả và Thiên Chúa giáo

Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếp nhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răn con chiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽ được cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyên con chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyên lành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau, truyền đạo cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sống hạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọi người làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.

Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềm tin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu là vì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn người khác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê (ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ là chiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Chúa mà còn gặp ở nhiều tôn giáo khác hoặc ngay cả ở đạo Phật (phái này chê bai phái khác). Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân si nơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhân thì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được hẳn là họ tự gạt chính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúng bịnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bịnh thì thuốc quý có thể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kia được. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ở nhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưng khi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương người và sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọi nơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trong cuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìm những lời nói đâm thọc xỏ xiên. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻ muốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho những người chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyền giáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầu nguyện hữu hiệu nhứt phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ không phải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật của một linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận được tình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớ không phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chất không bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự an lành chung quanh ta nếu ta không có cái nhân của sự an lành đó trong tâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luật nhân quả được.
 
Nhân quả và y khoa

Tuy nhân quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôn giáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bịnh tật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bịnh lúc mà bịnh chưa phát triển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngưà bịnh hơn là chữa bịnh. Cách tốt nhứt cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấn đề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bịnh. Muốn ngừa bịnh (quả) ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bịnh (nhân), tìm cách làm suy giảm những nguyên nhân gây ra bịnh, tìm cách không tạo duyên xấu để cho hậu quả bịnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừa bịnh.

Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bịnh là do vi trùng (bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thước nhỏ hơn vi trùng gây ra. Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bịnh, những nhà thuốc sáng chế ra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bịnh mà không cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệt đưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng ("super bugs") có sức kháng trụ sinh. Về phần bịnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cái duyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa) là cách phòng ngừa bịnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system) để chống lại bịnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể không thuận cho sự phát triển của bịnh. Một cách ngừa bịnh khác nữa là ta ăn ở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bịnh tật là góp phần vào sự củng cố những duyên không thích hợp cho bịnh phát triển. Thực tế, ta không thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bịnh mà cách dễ dàng nhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bịnh-quả phát triển. Con đường trị bịnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểm vì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểm nguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bịnh tiêu chảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt) nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bịnh. Đứng trên phương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên để phòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhứt.

Nhân quả và tâm lý học

Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stress có thể coi như cái cửa mở cho nhiều bịnh tật vào thân thể ta. Những triệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ. Ngoài ra nhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thể là một triệu chứng của stress nữa. Thuở xưa, Đức Phật có cho một thí dụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũi tên bắn bị thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, ai bắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương như thế nào, ..., người đó cứ mải lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tính chất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiều hướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngày càng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽ không giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyên làm cho lo âu càng lớn dần.

Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitive behavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Ta nhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1), quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2), sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3). Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biện pháp giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu. Thí dụ anh A có triệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình, anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, không có tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)... Qua khâu tâm lý trị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủ sở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợ chồng lúc nào cũng hòa thuận (2)... Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấy yên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khía cạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm không quan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phồng sự thật (nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trau giồi nghề nghiệp thì kết quả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánh lo âu.
 
Tóm lại

Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.

Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổi duyên ở hiện tại để quả xấu khó có thể biểu hiện được. Ở thế giới vật chất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, nhà thờ, học đường...). Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trau giồi trí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quả xấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si (làm nhân) và nuôi dưỡng những tư tưởng tham, sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sống hay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theo tâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiên đàng thành địa ngục.

Hiểu được nhân quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trong đời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽ sống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bấp bênh.

Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

Bác sĩ Thái Minh Trung

Wednesday, June 6, 2012

Hoa Kỳ và Cam Ranh

Hoa Kỳ và Cam Ranh

Ông Leon Panetta, Bộ Trưởng quốc phòng Hoa Kỳ sau khi tham dự Hội nghị Shangri-La tại Singapore với 27 Bộ trưởng quốc phòng trên thế giới (1) hôm Chủ Nhật 3 tháng 6-2012 đã đến viếng căn cứ Cam Ranh mở đầu chuyến công du Việt Nam 3 ngày. Đây là chuyến thăm viếng căn cứ Cam Ranh đầu tiên của một bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ kể từ khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi căn cứ sau Hiệp Định Paris 1973.

Công bố chính thức của cuộc công du Việt Nam là để thúc đẩy việc tìm kiếm tung tích của 1200 binh sĩ Mỹ đã chết trong cuộc chiến Việt Nam nhưng chưa tìm được hài cốt. Và đồng thời thăm chiến hạm Richard E. Byrd, một chiến hạm chuyên chở binh sĩ của Hải quân Hoa Kỳ đang neo để sửa chữa tại Cam Ranh. Chuyên viên sửa tàu của Việt Nam đã được gởi đến giúp chuyên viên Hoa Kỳ trong việc sửa chữa.

Dù được công bố mục đích của chuyến thăm viếng là gì, và các lời tuyên bố rào được đón sau của Hà Nội cũng như của Hoa Kỳ để làm yên lòng Trung quốc, sự hiện diện của ông bộ trưởng Panetta là một thông điệp không thể nhầm lẫn của Hoa Kỳ đối với Trung quốc.

Tại Hội nghị Shangri-La ở Singapore ông Panetta đã cảnh giác Trung quốc rằng nếu Hoa Kỳ đưa sức mạnh quân sự trở lại Tây Thái Bình Dương Hoa Kỳ không có mục đích đe dọa quyền lợi của Trung quốc. Và ông Panetta thuyết phục Trung quốc rằng nói chuyện với nhau tốt hơn là cãi vã nhau.

Tại Singapore, ông Panetta không nói gì đến việc ông sắp thăm viếng Cam Ranh, và chỉ nói rằng Trung quốc đừng ngạc nhiên nếu trong tương lai Hoa Kỳ đưa thêm nhân sự và tàu chiến vào vùng Á châu Thái Bình Dương. Ông cũng không ngần ngại tiết lộ rằng vào năm 2020, 60% trong số 285 tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ hiện diện tại vùng Á châu Thái Bình Dương và ông cũng cho biết 6 trong số 11 mẫu hạm của Hoa Kỳ cũng sẽ thường trực tại Á châu. Ông Panetta nói kế hoạch bố trí dài hạn 8 năm trước mắt của Hải quân Hoa Kỳ đã được dự liệu dù ngân sách quốc phòng được cắt giảm.

Căn cứ Cam Ranh là một quân cảng quan trọng, và có thể nói ai quản lý Cam Ranh là người kiểm soát Biển Đông và con đường thông thương huyết mạch từ Ấn Độ Dương lên phía Bắc Thái Bình Dương. Năm 1964 Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu địa hình cảng Cam Ranh chuẩn bị mở rộng cuộc chiến bảo vệ miền nam Việt Nam ra miền Bắc. Và đầu năm 1965 sau khi Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Việt Nam Cộng Hòa phát hiện và đánh đắm một chiếc tàu trọng tải 100 tấn của Bắc Việt chở vũ khí tiếp tế cho bộ đội cộng sản ở miền Nam tại Vũng Rô (trong vùng Đèo Cả thuộc tỉnh Phú Yên) Hoa Kỳ quyết định xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ Hải Không quân.

Từ năm 1965 đến năm 1973 Cam Ranh là một cứ điểm quan trọng của Hoa Kỳ. Quân đội và tiếp liệu cho toàn cuộc chiến đều ra vào qua cảng Cam Ranh. Sau Hiệp Định Paris 1973 Hoa Kỳ rút các lực lượng ra khỏi Cam Ranh, và giao lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa không có phương tiện duy trì Cam Ranh như một căn cứ và chỉ xử dụng phi trường Cam Ranh một cách giới hạn.

Vào đầu tháng 4/1975 cảng Cam Ranh còn được xử dụng để tiếp người tị nạn từ miền Trung. Ngày 3/4/1975 quân đội VNCH rút khỏi Cam Ranh.

Sau khi chiếm miền Nam, Hải quân Bắc Việt một phần không có nhu cầu, một phần không có khả năng nên căn cứ Cam Ranh bỏ trống. Năm 1979, sau cuộc chiến biên giới với Trung quốc, Việt Nam cho Nga thuê Cam Ranh trong 25 năm. Mục đích chính yếu là dùng sự hiện diện của Nga ngăn ngừa một cuộc xâm lăng Việt Nam của Trung quốc. Nga đã biến cảng Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn ngoài lãnh thổ Nga. Nga cho xây thêm tại Cam Ranh 5 cầu tàu, 2 bãi đưa tàu lên cạn để bảo trì và sửa chữa, xây thêm cơ sở cho tàu ngầm ẩn núp, kho chứa dầu, nhà máy điện, doanh trại và kéo dài phi đạo. Năm 1991 Liên bang Xô viết sụp đổ, quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc thay đổi. Giữa năm 2002, Nga rút khỏi Cam Ranh. Sau khi Nga rút đi, Trung quốc ve vãn Hà Nội để thuê cảng Cam Ranh, nhưng Hà Nội vẫn còn đủ tỉnh táo để không "bán" Cam Ranh cho Trung quốc dù căn cứ được bỏ trống .

Những năm gần đây Hà Nội cho chuyển phi trường dân sự Nha Trang vào Cam Ranh dùng cho các chuyến bay nội địa. Người ta đoán Hà Nội có ý dân sự hóa hải cảng Cam Ranh, và sau đó quốc tế hóa Cam Ranh để giải tỏa áp lực đòi thuê bao xử dụng của Trung quốc. (Hải Cảng Cam Ranh, www.tranbinhnam.com, bình luận số 335.

Quyết định đó của Hà Nội là một quyết định có tính chiến lược đúng đắn chừng nào Trung quốc còn biết tự chế trong việc đòi quyền làm chủ Biển Đông và giành quyền kiểm sóat con đường biển quan trọng của thế giới.

Thời gian cho thấy Trung quốc dường như đặt mục tiêu "trở thành siêu cường" là một nhiệm vụ lịch sử và bước đầu là bung ra Biển Đông, biến Biển Đông thành cái "hồ nhà" của mình để dọn đường đi bốn biển năm châu. Trung quốc biết rằng sức mạnh của Hoa Kỳ đang đi xuống nhưng còn mạnh hơn mình nhiều và Trung quốc sẽ chờ đợi:10 năm, 15 năm, trước khi đọ sức với Hoa Kỳ.

Nhưng với các nước nhỏ trong vùng Trung quốc không cần chờ đợi. Trung quốc dùng chính sách o ép bằng kinh tế và chính trị. Riêng với Việt Nam ngoài áp lực kinh tế Trung quốc còn dùng nợ nần và ơn nghĩa cũ để làm áp lực. Đối với Trung quốc, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng nhất nên nếu trị được Việt Nam, các nước khác trong khối Asean sẽ phải cúi đầu thuần phục. Cho nên trong những năm qua Trung quốc đã triển khai một chính sách "lấn ép" Việt Nam trên Biển Đông. Và năm 2011 là năm Trung quốc làm những hành động bắt nạt Việt Nam lộ liễu nhất.

Giữa năm 2011 chính quyền đảo Hải Nam công bố lệnh ngưng đánh cá trong Biển Đông và gởi hằng trăm tàu hải giám để chận bắt ngư dân Việt Nam. Ngày 1/6 Trung quốc dọa bắn một ngư thuyền Việt Nam gần Trường Sa và ngày 5/7 nhân viên Hải giám Trung quốc đánh đập một chủ thuyền khác trước khi dùng vũ lực đuổi ra khỏi vùng biển "cấm" tại Hoàng Sa.

Trung quốc cũng còn tìm cách ngăn cản việc khai thác dầu khí của Việt Nam trong vùng Đặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone – EEZ). Ngày 26/5 Trung quốc cho 3 tàu Hải giám đến lén cắt giây cáp dò tìm dầu khí của tàu Bình Minh 2 của Cục Dầu khí PetroVietnam . Đây là lần đầu tiên Trung quốc xâm phạm một cách lộ liễu vùng EEZ của Việt Nam.

Trong hai ngày liên tiếp 29 và 30/5 trong khi tàu khảo sát Viking II do PetroVietnam thuê tìm dầu khí trong bãi Tư Chính (Vanguard Bank), một tàu hải giám Trung quốc đến cắt giây kéo dụng cụ tìm dầu. Lực lượng bảo vệ Viking II của Việt Nam đã ngăn cản đuổi tàu hải giám của Trung quốc đi và hai bên xuýt đụng đô nhau bằng vũ lực. Chưa hết, ngày 9/6 Trung quốc lại cho tàu đánh cá đến cắt giây cáp của Viking II. Và cuối tháng 6 một vụ cắt giây cáp khác lại diễn ra chung quanh bãi Tư Chính.

Trước các hành động khiêu khích và lần lướt của Trung quốc, Việt Nam đã áp dụng đối sách phản ứng nhiều mặt: 1/ đối đầu (không dùng vũ khí) trên thực địa, 2/ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tuyên bố mạnh mẽ Việt Nam sẽ hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia, 3/ làm ngơ để nhân dân Hà Nội và Sài gòn biểu tình trong các ngày Chủ Nhật trong suốt 12 tuần từ đầu tháng 6, và sau cùng, 4/ không quên mặt ngoại giao gởi giới chức cao cấp đi Trung quốc nói chuyện hơn thiệt (Trung Quốc bắt nạt Việt Nam, www.tranbinhnam.com, bình luận số 413).

Nhưng các hành động của Trung quốc trên Biển Đông không phải là những đụng chạm ngoài ý muốn, mà là các hành động trong chính sách nên các đối sách đáp ứng của Việt Nam không còn thích hợp. Việt Nam cần phải có một chọn lựa khác.

Có nhiều dấu hiệu năm 2012 là năm căng thẳng. Đầu tháng 3/2012 Trung quốc bắt giữ 21 ngư dân Việt Nam và hai thuyền đánh cá trong vùng biển Hoàng Sa (Trung quốc đã chiếm bằng vũ lực đầu năm 1974) đòi tiền chuộc. Và Việt Nam cũng chỉ có thể phản ứng bằng nước bọt. Giữa tháng 4 Trung quốc gây hấn với Phi luật Tân tại bãi cạn Scarborough của Phi, và với lời lẽ "dao to búa lớn" của Trung quốc người ta chờ đợi những bước lấn tới trong chính sách đã được hoạch định của Trung quốc. Dường như Trung quốc muốn khiêu khích để Việt Nam chịu không nổi phải đánh trả và họ có cớ để ra tay đẩy cuộc tranh chấp sang một tầng cao khác có lợi cho họ.

Trong tình hình hiện nay Cam Ranh trở thành một cái chìa khóa giải quyết cuộc tranh chấp Biển Đông. Nếu trong 10 năm qua (từ 2002 khi Nga rút ra khỏi Cam Ranh) Việt Nam đã từ chối mọi ve vãn quốc tế xử dụng cảng Cam Ranh và nhắm quốc tế hóa cảng này là một chính sách khéo léo thì với các chuyển biến càng lúc càng tăng cường độ của Trung quốc có thể buộc Việt Nam phải có một chọn lựa khác.

Đồng minh và quan hệ an ninh có văn bản đối với Hoa Kỳ có lẽ còn quá sớm. Nhưng nếu có giao kèo để Hoa Kỳ xử dụng Cam Ranh thì có lẽ cũng là một thế bài giải nước bí của Việt Nam. Trước đây người ta vẫn đặt câu hỏi: Hoa Kỳ có muốn xử dụng lại Cam Ranh hay không. Và không ai có câu trả lời dứt khoát. Chuyến thăm viếng Cam Ranh của bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta và sự tiếp đón nồng hậu của Việt Nam là một câu trả lời từ hai phía không nhầm lẫn được.

Tín hiểu chuyển đổi chính sách của Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ làm Trung quốc rà soát và điều chỉnh lại chiến thuật tiến ra Biển Đông của họ. Và lịch trình Hoa Kỳ thuê bao Cam Ranh để làm căn cứ tiếp vận cho Hạm đội 7 còn tùy thuộc vào sự điều chỉnh này.

Có thể còn rất lâu. Nhưng chuyến thăm Cam Ranh của ông Panetta sẽ làm cho tính cách bè bạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thay đổi, và quan hệ giữa Trung quốc và Việt Nam sẽ không còn như trước. Nếu giữa Việt Nam và Trung quốc còn đồng sáng với 16 giữ vàng giả dối thì "mộng" cũng đã khác nhau nhiều.

June 5, 2012

Đánh giá của Mỹ về thực trạng tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam...


Dân Làm Báo vừa nhận được tập tài liệu rất đáng chú ý từ nguồn ẩn danh, theo nhận định thì đây đều là những văn bản có xuất xứ từ Tổng cục 2 – Bộ Quốc Phòng Việt Nam (tức Tổng cục Tình Báo). Nội dung các tài liệu liên quan đến nhiều vấn đề thời sự mà dư luận đang rất quan tâm. Bên cạnh đó là những đánh giá, nhận định theo quan điểm của những người hiện đứng trong hàng ngũ Đảng CSVN.

Dân Làm Báo không có điều kiện để kiểm tra tính xác thực cả về xuất xứ cũng như nội dung của các văn bản này. Tuy nhiên, xét thấy đây đều là những tài liệu có giá trị tham khảo cao, vì vậy xin được công bố để bạn đọc tùy nghi nhận định.

Tập tài liệu này có thể xuất xứ từ Cục 16, thuộc Tổng cục 2, là các bản báo cáo được chia thành phần. Đây là bài đầu tiên trong loạt bài và Dân Làm Báo sẽ đăng tải toàn bộ tập tài liệu này thành nhiều phần, mến mời bạn đọc theo dõi.
 
*****************************
 
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
            
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỤC 16 
Phòng 7  
Số /2012/BRC Ngày 23 tháng 4 năm 2012
Số trang: 4 Nguồn: S(A.199)

Báo Cáo
Đánh giá của Mỹ về thực trạng tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam và động thái mới của Mỹ trong triển khai chiến lược "DBHB" đối với Việt Nam

I. TRƯỜNG HỢP LẤY TIN:
Tổng hợp qua quá trình tiếp xúc trực tiếp Claire Pierangelo/Phó Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, Gary/Phòng chính trị Bộ Ngoại giao Mỹ; Greg/Thiếu tá pháo binh Mỹ; Chuck/Đại úy lính thủy đánh bộ Mỹ, từ 20.3.2012 đến nay.

II. NỘI DUNG TIN:
Từ20.3.2012 đến nay, qua tiếp xúc, khai thác nhóm nhân vật Mỹ nhạy cảm tại Hà Nội (Claire Pierangelo/Phó Đại sứMỹ tại Hà Nội, Gary/Phòng chính trị Bộ Ngoại giao Mỹ; Greg/Thiếu tá pháo binh Mỹ; Chuck/Đại úy lính thủy đánh bộ Mỹ), xin báo cáo một số đánh giá của Mỹ về thực trạng tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam (VN) hiện nay và một số động thái mới của Mỹ trong triển khai chiến lược "DBHB" đối với VN thời gian tới như sau:

1. Về thực trạng tình hình kinh tế - xã hội VN hiện nay:

Theo đánh giá của Claire Pierangelo: "Nền kinh tế VN hiện nayđang tồn tại rất nhiều vấn đề và cần phải tốn rất nhiều thời gian để khắc phục.Vấn đề lớn nhất của VN chính là lợi ích nhóm và tính nhiệm kỳ của các lãnh đạo quá cao, quá điển hình mà không có tầm nhìn dài hạn. Tất cả các giải pháp chính sách được đưa ra chỉ có tính thời vụ, tạm thời. Các tập đoàn kinh tế của nhà nước được hưởng quá nhiều lợi ích và Chính phủ VN hầu như chỉin tiền phục vụ nhóm này trong khi hiệu quả đầu tư công vô cùng thấp, tham nhũng tràn lan. Trong khi đó, các công ty, doanh nghiệp tư nhân là những người sản xuất và đem lại nhiều lợi ích cho xã hội hơn cả thì lại thiếu đi những sự hỗ trợ và gặp rất nhiều khó khăn"... "Ở VN hiện nay, cụm từ "tái cơ cấu" được Chính phủ và báo chí nhắc tới rất nhiều nhưng không có nội dung và hành động cụ thể đi kèm. Chính phủ VN hiểu vấn đề của họ,nhưng những lợi ích nhóm và cá nhân đang làm mờ mắt và chậm bước trên con đường thay đổi".

Claire Pierangelo phân tích: "Đáng lẽ kinh tế VN phải vững vàng hơn hiện nay rất nhiều chứ không phải ở tình trạng bung bét và vá sửa lung tung như hiện nay. Mặc dù Chính phủ VN đang cố gắng che đậy những bất cập, yếu kém của nền kinh tế nhưng người dân VN ai cũng biết nguyên căn của sựyếu kém đó. Tiền chỉ tập trung vào một số ít người và nhóm nhất định. Các nhà lãnh đạo VN ai cũng rất giầu, có tiền gửi ở khắp các Ngân hàng trên thếgiới. Điển hình là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hoặc nhiều Bộ trưởng, người nào cũng rất giầu. Tiền của họ chính là tiền của Nhà nước. Rõ ràng, tham nhũng tại VN đã trở thành một căn bệnh trầm kha, tới mức nói tới cái gì xấu người dân cũng đều gán cho cái mác "Cộng sản"... Bên cạnh vấn đề tham nhũng thì vấn đề đất đai cũng đang gặp những bức xúc và phản ứng gay gắt từ xã hội. Chính phủ VN thực sự đang đánh mất lòng dân trong khi xã hội VN lại đang tồn tại quá nhiều vấn đề... Nhiều nhà khoa học và học giả VN hiện nay thường đề cập tới các vấn đề của xã hội TQ và cho rằng, TQ khó có thể phát triển vì quá nhiều vấn đề và bất cập xã hội. Tuy nhiên, thực tế Chính phủ VN cũng đang gặp những vấn đề tương tự TQ, thậm chí còn tồi tệ hơn TQ, vì Chính phủ VN không dám thẳng tay làm gì, ngược lại cố tình bao che, dung túng cho các sai lầm. Đây chính là yếu tố để VN "tự diễn biến" một cách hết sức hòa bình và tự nhiên".

Ngoài ra, qua tìm hiểu được biết: Từ 20.3.2012 đến nay, theo sự bố trí, sắp xếp và chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc Phòng Mỹ, 3 nhân viên Mỹ là Gary/Phòng chính trị Bộ Ngoại giao Mỹ; Grek/Thiếu tá thuộc pháo binh và Chuck/Đại úy lính thủy đánh bộ Mỹ (đây đều là những nhân viên được đào tạo tại Đại học John Hopkins - Lò đào tạo CIA/Mỹ) đã được cử sang VN để khảo sát tình hình VN và báo cáo về BộNgoại giao Mỹ. Sau một thời gian ngắn thực hiện nhiệm vụ ở VN, những nhân viên này đã được Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và tiếp tục được chỉ đạo ở lại VN để khảo sát tình hình và nắm bắt thông tin thêm một thời gian nữa. Một số vấn đề mang tính kết luận liên quan đến tình hình VN đãđược 3 nhân viên này báo cáo về Mỹ gần đây như sau:

Thứ nhất, người dân VN hiện đang rất bất mãn với chế độ. Tại các quán café, quán bia, quán trà (phổ biến của giới trẻ VN)... các vấn đề mà mọi người thườngđề cập là vấn đề tham nhũng, vấn đề Biển Đông và quan hệ Việt - Trung với tháiđộ chỉ trích cách xử lý của Chính quyền.

Thứ hai, người dân VN hiện nay rất ghét TQ. Không chỉ vì TQ "chơi bẩn" trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà còn do cách hành xử của Chính phủ VN với Chính phủ TQ. Đáng chú ý, Mỹ và các vấn đề liên quan tới Mỹ hiện đã không còn là vấn đề thời sự được người dân VN nhắc đến. Trong khi đó, TQ mới thực sự là đối tượng hay được nhắc đến như một kẻ thù chủyếu và trực tiếp của VN. Người Mỹ có thể yên tâm rằng VN sẽ không bao giờ thân với người TQSự gần gũi của Chính phủ VN hiện nay đối với TQ chỉ mang lại những hiệu ứng tiêu cực, càng làm cho người dân VN chán ghét và phản kháng lại Chính phủ nhiều hơn.

Thứ ba, người dân VN hiện đang bị Mỹ hóa rất nhanh. Thời gian qua, cuộc cách mạng về văn hóa của Mỹ đã có sự lan tỏa và phát triển sâu rộng trong toàn xã hội VN. Người dân VN hiện không còn căm ghét Mỹ như 10 - 15 năm trước nữa, ngược lại trở nên thân thiện với Mỹ nhiều hơn. Người VN rất mến khách và dần dần đã coi người Mỹ thực sự là bạn. Đáng chú ý, không ít người VN (kể cả giới quan chức) có tư tưởng bài TQ thậm chí còn coi Mỹ là một cứu cánh cho VN.

Grek bộc lộ rằng: "Nếu như các nhà hoạch định chính sách Mỹ hiểu rõ hơn về tình hình VN như cách chúng tôi hiểu thì người Mỹ chắc chắn sẽ có cách tiếp cận VN khác nhiều so với trước. Người Mỹ chưa hiểu nhiều về VN vì họ chưa có dịp sang VN và tiếp xúc với người dân VN. Nhiệm vụ của chúng tôi là sẽ làm cho người Mỹ hiểu rõ hơn về VN. Đây là một chuyến đi rất thành công của chúng tôi và khi về nước, chúng tôi sẽ giúp người Mỹ hiểu rõ hơn về VN. VN hiện đã ở rất gần Mỹ".

2. Một số động thái mới của Mỹ trong triển khai chiến lược "DBHB" đối với VN thời gian tới:

Claire Pierangelo cho rằng: "Vấn đề của Chính phủ VN hiện nay không phải do bên ngoài đem tới mà chính là vấn đề tự thân của Chính phủ VN. Nếu không giải quyết được các vấn đề này thì chính VN sẽ gặp rắc rối lớn mà không cần ai/nước nào can thiệp... Trước đây, Chính phủ Mỹ từng nghĩrằng, Mỹ sẽ phải bằng cách này hay cách khác đổ thật nhiều tiền vào VN mới có thể đạt được các mục đích của mình, nhưng hiện nay việc làm này không còn cần thiết nữa. Chính phủ Mỹ không cần phải can thiệp hoặc đổ quá nhiều tiền vào VN, chỉ cần có những tác động cụ thể trong từng giai đoạn phù hợp, những tình huống nhất định thì Mỹ có thể đạt được mọi điều mình mong muốn ở VN".

Cơ sở để đưa ra nhận định này đó là: Giới trẻ VN hiện nay đã khác hẳn thế hệ đi trước. Tuổi 32 có thể coi là một mốc quan trọng cho ranh giới giữa các thế hệ ở VN. Theo các cuộc điều tra, khảo sát và nghiên cứu của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội: Ở VN hiện nay, những người từ 32 tuổi trở xuống là một thế hệ mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tư tưởng rất thoáng, văn hóa và cách nghĩ, cách sống gần với phương Tây và Mỹ hơn. Thậm chí một bộ phận giới trẻ VN hiện nay còn thuộc phim ảnh Mỹ, âm nhạc Mỹ, thời trang Mỹ nhiều hơn chính những người Mỹ... Đây là một thành công lớn của Mỹ trong việc truyền bá văn hóa Mỹ vào VN trong suốt thời gian vừa qua.

Claire Pierangelo nói: "Không cần phải làm gì quá nhiều, biên giới Mỹ đang ngày càng tiệm cận, thâm nhập sâu và mở rộng hơn tại VN. Tình trạng "Mỹ hóa" đang xẩy ra nhanh chóng và ngày càng phổ biến trong giới trẻ. Giới trẻ VN hiện nay cũng không còn chịu ảnh hưởng nhiều của thế hệ đi trước, đặc biệt về tư tưởng, thái độ, lối sống, cách suy nghĩ mà họ có xu hướng tách ra, độc lập và tự chịu trách nhiệm"... "Điều mà Mỹ lo lắng là sự bền chặt trong mối quan hệ Việt-Trung. Tuy nhiên, VN hiện đã đi xa khỏi khu vực ảnh hưởng của văn hóa TQ. Tư tưởng bài xích TQ luôn xuất hiện trong suy nghĩ của người dân VN, chính điều này lại giúp văn hóa Mỹ gần với văn hóa VN hơn..."

Những ưu tiên của Mỹ đối với VN trong thời gian tới là:

Thứ nhất, trong thời gian tới, Mỹ sẽ tiếp tục khai thác và tập trung vào giới trẻ VN nhiều hơn, nhất là lứa tuổi từ 32 trở xuống. Song song với đó, Mỹ cũng sẽ tìm hiểu và khai thác thông tin từ cộng đồng dân chúng để hiểu rõ hơn về thực trạng tình hình VN để có những đối sách phù hợp. Đối với Mỹ, những thông tin có được qua quá trình tiếp xúc dân chúng là hết sức giá trị, thể hiện rõ thực trạng đất nước và xã hội VN, nó khác hẳn với những thông tin chính thống của Chính phủ.

Qua tìm hiểu được biết, với các kết quả đạt được trong chuyến công tác VN vừa qua, GregChuck đã được Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao Mỹ điều động ở lại VN tiếp tục hỗ trợ cho Tùy viên quân sự Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội trong một thời gian nữa để theo dõi sát về tình hình VN, nhất là những vấn đề liên quan đến Biển Đông và mối quan hệ Việt-Trung. Đây là nhiệm vụ đột xuất vì Đại sứ quán Mỹ tại VN vừa nhận được báo cáo mới nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ gửi sang có đánh giá rằng: Sự căng thẳng gần đây giữa VN và TQ liên quan tới BĐ có nguy cơ bùng nổ xung đột và Bộ Quốc phòng Mỹ hiện đang muốn tìm hiểu quan điểmphản ứng của VN về vấn đề này. Đặc biệt, nhiệm vụ tối quan trọng mà Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ giao cho 2 nhân viên này là tăng cường tiếp xúc các tầng lớp, đối tượng VN để xây dựng mạng lưới quan hệ xã hội, tìm hiểu tâm lý và các vấn đề quan tâm của người dân VN hiện nay (tự do báo chí, tôn giáo, Intermet, vấn đề Biển Đông, quan hệ Việt-Trung, Mỹ-Việt...) nhằm phục vụ cho việc hoạch định chiến lược của Mỹ đối với VN trong thời gian tới. Vì chưa phải là giới chức ngoại giao Mỹ nên hoạt động của 2 nhân viên này ở VN sẽ có nhiều thuận lợi, có thể dễ dàng tiếp xúc với các đối tượng thuộc nhiều thành phần xã hội ở VN.

Thứ hai, Mỹ sẽ tiếp tục sử dụng vấn đề nhân quyền để gây sức ép mạnh mẽ lên Chính phủ VN nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của mình trong quan hệ Mỹ-Việt.

Claire Pierangelo bộc lộ: "Trong thời gian tới, Mỹ sẽ tiếp tục quan tâm tới tình hình nhân quyền tại VN. Vấn đề này tuy luôn nóng nhưng chỉ là một phương tiện để Chính phủMỹ đạt được những mục đích khác chứ không phải đây là mục đích thực sự của Chính phủ Mỹ tại VN... Thực tế cho thấy, có rất nhiều chính phủ khác còn vi phạm nhân quyền nhiều hơn VN nhưng Chính phủ Mỹ không đề cập tới... Trong thời gian tới, dù chính quyền VN vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền, thậm chí mức độ vi phạm còn lớn hơn, nhưng Chính phủ Mỹ có thể sẽ không đề cập nhiều.Tuy nhiên, đó là vấn đề của sau này, còn hiện tại thì nhân quyền vẫn sẽ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Mỹ, Đại sứ quán Mỹ tại VN để gây sức ép với Chính phủ VN nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của Mỹ".

Claire Pierangelo khẳng định: "Với những gì đang diễn ra tại VN hiện nay có thể đi đến kết luận rằng: Trong 20 năm nữa, diện mạo VN sẽ thay đổi rất nhiều so với hiện nay. 10 năm tới vẫn sẽ là thời kỳ 'hỗn loạn', 'tranh tối, tranh sáng' nhưng 10 năm tiếp theo sẽ là một sự chuyển dịch 'chóng mặt'. Rất có thể Chính phủ cộng sản cũng sẽ không còn tồn tại nữa".

III. NHẬN XÉT:

Tin phản ánh một số nhận định, đánh giá của nhóm nhân vật Mỹ nhạy cảm thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ về thực trạng tình hình kinh tế-xã hội VN và cách tiếp cận của Mỹ đối với VN trong thời gian tới.

Đáng chú ý là nhận định cho rằng: Thực trạng yếu kém, những bất cập về kinh tế-xã hội VN, cùng sự xuất hiện những tư tưởng "gần Mỹ", bài xích TQ hiện nay đang khiến người dân mất niềm tin vàoĐảng, vào chế độ. Đây chính là nền tảng để VN "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và chỉ cần một cú hích nhẹ của Mỹ tại các thời điểm, tình huống phù hợp thì chế độ VN sẽ sụp đổ. Trước mắt, Mỹ (mà trực tiếp là Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội) đang tìm cách xây dựng các mạng lưới xã hội VN, khai thác, lôi kéo và chuyển hóa giới trẻ VN; đẩy mạnh tuyên truyền, kích động gây chia rẽ mối quan hệ Việt-Trung... nhằm thực hiện được mục tiêu chuyển hóa, lật đổ chính quyền VN trong 20 năm tới.

IV. TÀI LIỆU KÈM THEOKhông.

Cục trưởng
Cán bộ hoạt động
Đại tá: Nguyễn Tân Tiến

* Nơi nhận:
- TT Lưu Đức Huy : 01 bản
- Ban A : 01 bản

Những mảnh đời trên phố cơm trắng ở Sài Gòn

Những mảnh đời trên phố cơm trắng ở Sài Gòn

Sài Gòn, bề nổi là một thành phố lộng lẫy xa hoa sực mùi dầu thơm và những nhà hàng tiệm ăn sang trọng. Nhưng vẫn còn đó một Sài Gòn của những công nhân, những trí thức mà bữa cơm chiều chỉ là bát cơm không, mua ở cổng nhà ga.

Những mảnh đời và phố cơm trắng ở Sài Gòn
Khách quen của quán cơm trắng là các công nhân.
Phố cơm trắng
Khu vực quanh ga Sài Gòn có nhiều nhà trọ tồi tàn. Những người từ xa xuống sân ga thường thuê trọ để bán báo, đánh giày, bán vé số, làm công nhân. Họ còn bỡ ngỡ, chưa dám đi đâu xa, vả lại cuộc sống quanh nhà ga cũng không đắt đỏ như trong khu trung tâm.

Những ngóc ngách chật chội và có phần hôi hám, nhà cửa cáu bẩn, những chung cư cũ kỹ phơi đầy quần áo cũ, lúc nào cũng nườm nượp người lao động lấm lem. Giữa hàng vạn con người khuôn mặt nhầu nhĩ ấy, đã ra đời phố bán cơm không mà người Sài Gòn gọi là phố cơm trắng quanh nhà ga xe lửa.

Người bán cơm trắng nhiều khi không thuê mặt bằng, mấy bình ga đặt ở góc đường, che ô dù, đội nắng mưa nấu cơm mà bán cho nhân dân.
Mỗi người dăm bảy cái nồi, mỗi nồi nấu được gần yến gạo. Họ không bán thức ăn, chỉ vài hàng có bán thêm dưa hành, nước mắm nước tương. Cơm và dưa món để trong bao ni lông. Cơm tính theo cân, người ta cũng thường gọi là "cơm ký".

Chị Hồng, một người bán cơm trắng 12 năm nay cho biết vợ chồng chị thay nhau nấu cơm bán. Mỗi cân cơm chỉ lãi được 500 – 1.000 đồng nên không đủ tiền thuê nhân công: "Chúng tôi chỉ lấy công làm lãi. Bán cơm giá cao chút lập tức người ta không mua nữa. Công nhân nghèo lấy tiền đâu mà mua".

Mỗi ngày chị Hồng dậy từ 4 giờ sáng, nấu cơm bán đến gần 9 giờ đêm. Cứ mỗi cân gạo nấu thành hai cân cơm. Chị nói: "Gạo ngon mọi người thường ăn giá 18.000- 20.000 đồng/kg, gạo chúng em nấu bán ở đây chỉ 12.000 đồng/kg. Dân cần ăn no chứ chưa cần ăn ngon".

Một cân cơm bán giá 8.000 đồng, đủ cho ba công nhân ăn. Tính ra mỗi bữa một người chỉ phải bỏ ra 2.700 đồng. "Một ly trà đá giờ đã 2.000 đồng" - chị Hồng nói. Một ngày chị Hồng bán khoảng 450 kg cơm trắng.

Chị Hương, một người bán cơm trắng thì nói: " Người ta bán hàng cơm, chủ yếu lời vào thức ăn. Khi công nhân đến mua cơm trắng, các quán cơm chẳng bao giờ bán. Bởi vậy, người nghèo phải tìm tới ga tàu lửa này để mua cơm ăn qua ngày".

Chị nói thêm: "Có người thấy chúng tôi bán ngày cả tạ gạo, tưởng bán cho các quán cơm, nhưng hoàn toàn không phải. Người ta kinh doanh, nấu cơm có lời, chỉ khi nào thiếu cơm họ mới chạy qua đây mua vài ba ký thôi. Cơm trắng chúng tôi nấu ra chủ yếu bán cho dân lao động và sinh viên".

Heo hắt những bữa ăn
Ông Sáu chạy xích lô. Khi nào đói và rảnh khách lại tạt vào mua 3.000 đồng cơm trắng buộc vào xích lô. Ông có hai chai nước lớn lấy từ vòi, khát thì cúi xuống mà uống. Ông Long chạy xe ôm, chiều tối ghé mua vài lạng cơm, giữ nó như giữ bảo bối vậy. Cầm bịch cơm trắng nom ông cười thật hiền.
Những mảnh đời và phố cơm trắng ở Sài Gòn
Phần lớn khách mua cơm trắng là người nghèo.

Chị Hương nói với tôi: "Khách mua đủ lứa tuổi. Trẻ em đánh giày, phụ nữ bán báo, người già bán vé số". Chị nói: "Lắm người chỉ mua vài ngàn, nhưng vẫn phục vụ. Cơm cháy thường để cho mấy người neo đơn, nghèo khổ. Lắm khi thấy tội quá, không nỡ lấy tiền".

Thùy, sinh viên một trường cao đẳng nói: "Chúng em ba đứa thuê một phòng, tháng mất tám trăm ngàn. Phòng trọ nhỏ, chủ không cho nấu cơm vì sợ cháy nhà. Ăn cơm hàng thì đắt đỏ lắm, mà không no, nên mỗi bữa lại ra đây mua một cân cơm trắng".

Quanh ga tàu có tới cả chục quán cơm bụi. Nhưng giờ giá thuê mặt bằng tăng, giá điện nước, gạo, thịt rau đều tăng, giá cơm bụi tăng liên tục. "Cơm rẻ nhất cũng phải 20.000 đồng một suất. Nếu cả ba đứa đi ăn thì mất 60.000 đồng".

Hỏi ăn cơm trắng hoài sao nuốt nổi và sức đâu học hành? Thùy nói: "Chúng em mua thêm trứng luộc".

Chị Hằng bán hàng rong, là khách quen của phố. Chị nói là "đi bán suốt từ sáng sớm đến tối mịt, lấy đâu thời gian nấu cơm".

Hàng bán bữa được bữa mất. Họ từ Quảng Nam vào, thuê nhà trọ gần bệnh viện da liễu. Đói thì mua cơm, ngồi gốc cây chia nhau mà ăn. Lắm khi trời nắng nuốt không nổi. Chị nói: "Muốn ăn cơm ngon thì chờ đến tết về quê".

Tìm nguồn sống
Trời nắng, xe cộ, bụi bặm, tiếng còi tàu rắt réo. H., một học viên theo học nghề điện, ngồi đạp xe lăn đi tìm mua cơm trắng. H. nói: "Chi phí học hành đắt đỏ lắm, em phải tiết kiệm để đỡ cho gia đình". H. không chỉ mua cơm cho mình mà còn mua cho nhiều bạn khác nữa.
Những mảnh đời và phố cơm trắng ở Sài Gòn
Tìm mua cơm trắng.

Nhìn cảnh người ngồi xe lăn, len lỏi giữa phố xá đầy bụi bặm và xe cộ nơi ga tàu, mới biết người ta mong tìm quán cơm trắng đến như thế nào.
Anh Thời, công nhân một nhà máy cách phố cơm trắng hàng cây số nói: "Ngày nào cũng như ngày nào, tôi đều mua cơm ở đây ăn. Đồng tiền trượt giá, gạo thịt đều tăng, giá thuê nhà tăng. Phải sống như thế này, cầm cự, chứ còn biết làm sao bây giờ? Có cái bỏ vào miệng là tốt rồi, cầu gì ăn ngon".

Anh mua hai ngàn đồng tiền cơm cộng thêm ba ngàn dưa món: "Muốn đổi khẩu vị thì mua mấy ngàn đậu phụ chấm với nước tương".

Phố Nguyễn Thông nằm sát cổng ga Sài Gòn có lẽ là một bức tranh tương phản của cuộc đời hôm nay. Phố này nổi tiếng bán rượu Tây với hàng chục tiệm rượu.

Những chai rượu được thiết kế cầu kỳ, rượu ngâm với sâm Cao Ly, rượu lâu năm đến từ các nước… có giá vài chục triệu đồng, thậm chí có chai mấy chục triệu đồng. Một bữa nhậu của người có tiền, có chức, phải hết mấy chai!
Ngồi bên vệ đường cùng phố cơm trắng, tôi mới phát hiện ra phần lớn những khách hàng phố này đều độ tuổi thanh thiếu niên, sinh viên, người lao động trẻ.
Họ đều đang tuổi ăn, tuổi lớn, độ tuổi lao động quan trọng nhất của xã hội. Phần đa khách mua cơm trắng đều gầy gò, xanh lớt, có người tay run, giọng nói phều phào. Chị Hồng nói: "Không ít người là khách quen của chúng tôi đến cả chục năm ròng. Nghĩ mà thương".

Nhưng cũng ở phố Nguyễn Thông, nơi cuối con phố giáp với ga tàu, những ngõ nhỏ tối tăm và những hàng cơm trắng bày bán trên vỉa hè, nườm nượp các vị khách.

Chị Loan, người bán báo đi dép lê, cầm trên tay những tờ báo in đậm dòng tít nói về các tập đoàn nhà nước làm ăn thua lỗ ném hàng ngàn tỷ đồng vô nghĩa xuống sông xuống biển, những tòa nhà con em quan chức tỉnh nọ lên đến hàng trăm tỷ được xây dựng chỉ để cho họ hưởng lạc… Người đàn bà bán báo dạo ghé vào mua cơm trắng, ánh mắt chị buồn hiu hắt.

Chị Nga, chủ một quán cơm trắng đã quyết định bán hai loại cơm. Cơm thường nấu từ gạo xốp bán giá 8.000 đồng/kg. Cơm ngon nấu từ gạo dẻo, giá bán 10.000 đồng/kg.

Quan sát hơn 20 người mua cơm trắng tại quán này, tôi thấy tất cả họ đều chỉ có một nhu cầu: "Bán cho tôi cơm thường". Người đàn bà bán báo mua 3.000 đồng cơm thường ấy. Chị cầm chặt nắm cơm trong tay, như sợ sẽ đánh rơi một vật quý giá.
==========================================

Sunday, June 3, 2012

Ô. Panetta mong nhiều tàu chiến Mỹ ghé hải cảng của Việt Nam

Ô. Panetta mong nhiều tàu chiến Mỹ ghé hải cảng của Việt Nam

(Panetta wants more US access to Vietnam harbor)

By LOLITA C. BALDOR | Associated Press – 1 hr 26 minutes ago     

(Hình ảnh Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta trên boong tàu)

CAMRANH, VIETNAM (AP) - Trên boong tàu cũng là bãi đáp của trực thăng của quân vận hạm USNS Richard E. Byrd Hoa Kỳ, Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta có thể nhìn bao quát Vịnh Cam Ranh cho tới Biển Đông.

Một ngày sau khi đưa ra những chi tiết mới của Ngũ Giác Đài là tập trung vào khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Ô. Panetta đã dùng chuyến viếng thăm Việt Nam để tái khẳng định ý muốn của Hoa Kỳ là giúp đồng minh trong vùng phát triển và thực thi chủ quyền của mình trên biển - một vùng mà Hoa Lục gom hết chủ quyền về mình. Và ông cũng hồi tưởng lại ý nghĩa của quân cảng này- vừa là hình ảnh đau đớn trong quá khứ của quân đội Hoa Kỳ vừa là thách đố mới nhưng cũng là một tương lai đầy hy vọng. Giữa đoàn phóng viên tụ tập dưới cái nóng cháy da trên boong tàu quân vận hạm ngày Chủ Nhật, Ô. Panetta nói, "Chiến lược quốc phòng mới mà chúng ta đã sắp xếp đâu vào đó bao gồm một số điểm then chốt sẽ được thử thách ở vùng Châu Á Thái Bình Dương. " Ông nói thêm, "Hoa Kỳ sẽ thảo luận với những những quốc gia hợp tác như Việt Nam để có thể xử dụng những quân cảng này khi tàu chiến Hoa Kỳ di chuyển từ những quân cảng nằm ở Bờ Biển Phía Tây (West Coast) tới những căn cứ như  thế này ở Thái Bình Dương."

Ô. Pantta không nêu đích danh Hoa Lục khi ông nói chuyện với thủy thủ đoàn trên boong tàu Byrd cũng như sau đó với những ký giả. Thế nhưng khi khu vực Biển Đông trở thành sân khấu chính, ông đã cho mọi người thấy Hoa Kỳ sẽ duy trì sự hiện diện mạnh mẽ trong vùng và mong muốn giúp các đồng minh tự vệ và thực thi chủ quyền của mình trên biển.

Thế nhưng chuyến viếng thăm của ông chắc chắn gây bực tức cho các lãnh tụ Hoa Lục, họ không hài lòng với bất cứ  việc xây dựng căn cứ quân sự nào trong vùng của Hoa Kỳ và họ coi đó như là một đe dọa. Trong bài phát biểu tại hội nghị an ninh quốc phòng tổ chức tại Singapore vào Thứ Bảy Ô. Panetta đã bác bỏ những lập luận như vậy. Nhưng các giới chức quân sự Hoa Kỳ rất thận trọng về việc Hoa Lục gia tăng xây dựng lực lượng quân sự và bành trướng giao dịch thương mại với các quốc gia trong vùng. Ô. Panetta nói, "Việc các chiến hạm Hoa Kỳ ra vào những căn cứ như thế này là một thành tố then chốt trong mối bang giao với Việt Nam và chúng ta thấy đây là một tiềm năng lớn cho tương lai."

Đây là chuyến viếng thăm Việt Nam đầu tiên của Ô. Panetta và việc ông ghé quân cảng này, khiến ông trở thành giới chức quốc phòng cao cấp nhất của Hoa Kỳ trở lại Vịnh Cam Ranh kể từ khi Chiến Tranh Việt Nam kết thúc.  Giờ đây các chiến hạm Hoa Kỳ không được ghé quân cảng này ngoại trừ các loại tàu khác như quân vận hạm Byrd. Byrd là tàu vận tải điều hành bởi Chỉ Huy Quân Vận Hải Quân (Navy's Military Airlift Command) mà thủy thủ đoàn phần lớn là dân sự. Tàu này được dùng để chở hàng tiếp vận cho quân đội Hoa Kỳ trên toàn thế giới. Còn các tàu chiến Hoa Kỳ thì ghé các cảng khác của Việt Nam như Đà Nẵng.

Ông Panetta chỉ gợi ý là Hoa Kỳ muốn nhiều tàu chiến có thể ghé Vịnh Cam Ranh trong tương lai nhưng ông và các giới chức quốc phòng khác không nói rõ chi tiết về những yêu cầu mà ông sẽ đặt ra với các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Trong Chiến Tranh Việt Nam, quân cảng nước sâu chiến lược này đã là căn cứ của Hoa Kỳ.  Ngày Chủ Nhật hôm nay được xem như là một biểu tượng cho sự lớn mạnh hơn trong mối liên hệ về quân sự với Việt Nam - làm nổi bật mong muốn của Hoa Kỳ xây dựng sự hợp tác với các quốc gia trong vùng để đối phó với sự leo thang khống chế vùng biển này của Hoa Lục.

Còn đối với Ô. Panetta, người đã ở trong quân ngũ trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam nhưng không phục vụ chiến đấu- thì đây là cơ hội thật xúc động, " Đối với tôi đây là giây phút cảm động,"  ông đã nói thế khi ông nhắc lại việc ông đã tham dự Ngày Chiến Sĩ Trận Vong tại Washington để kỷ niệm 50 năm chấm dứt chiến tranh.  "Ngày hôm nay tôi đứng tại Vịnh Cam Ranh này  để kỷ niệm 17 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam." Quan hệ giữa hai quốc gia đã tiến một bước dài, và ông phát biểu, "Chúng tôi có một mối liên hệ phức tạp nhưng chúng tôi không bị trói buộc bởi lịch sử."

Chiến lược mới của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương bao gồm kế hoạch rộng rãi nhằm giúp các quốc gia trong vùng học phương thức tốt hơn để phòng vệ và để điều đó có thể thành hiện thực, trên boong tàu, Ô. Panetta nói thêm, " Điều quan trọng là khả năng của chúng ta có thể bảo vệ những quyền lưu thông căn bản trên biển cho tất cả các quốc gia tại Biển Đông cũng như những nơi khác."

Hoa Lục đã tuyên bố chủ quyền trên hầu hết vùng Biển Đông khiến tạo ra những tranh cãi với các quốc gia khác trong khu vực bao gồm Việt Nam, Taiwan, Malaysia, Singapore và những quốc gia khác đã từng tuyên bố chủ quyền trên vùng biển này.

Ô. Panetta đã từ cuộc hội thảo về quốc phòng tổ chức tại Singapore là nơi ông đã  gặp gỡ các giới chức lãnh đạo của đồng minh trong vùng để đáp máy bay tới Việt Nam. Tại hội nghị này ông đã đưa ra lời kêu gọi các quốc gia Đông Nam Á hình thành một bộ quy tắc ứng xử, bao gồm những luật lệ điều hành quyền lưu thông và đặc quyền trên biển đồng thời tổ chức những cuộc hội thảo để giải quyết những tranh chấp.

Cùng thời gian đó ông đã đưa ra chi tiết về những kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực , bao gồm sự gia tăng khiêm tốn số lượng tàu chiến và binh sĩ luân phiên tới- lui. Các giới chức quốc phòng nói rằng tới năm 2020, Hải Quân Hoa Kỳ có thể gửi thêm tám tàu chiến tới khu vực Châu Á Thái Bình Dương và nói chung, khoảng 60% lực lượng hải quân sẽ được phối trí tại đây.

Căng thẳng giữa Mỹ và Hoa Lục vang dội cả khu vực và thường tập trung vào việc Hoa Kỳ hỗ trợ cho đảo quốc Đài Loan, nơi mà Hoa Lục coi như lãnh thổ của mình. Một khu vực gây căng thẳng nữa (giữa Mỹ và Hoa Lục) là chuyện Hoa Lục tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông nơi  mà Taiwan, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Brunei và Phillippines cũng tuyên bố chủ quyền của mình.   

Thêm vào đó, mới đây Hoa Kỳ đã lên tiếng cáo buộc những cuộc tấn công mạng xuất phát từ Hoa Lục và lấy cắp những dữ kiện quan trọng của chính quyền Hoa Kỳ cũng như của những công ty tư nhân. /.

 Bản dịch của Đào Văn Bình

Friday, June 1, 2012

BA VIỆT KIỀU 105 NĂM TÙ TẠI PHILADELPHIA

BA VIỆT KIỀU 105 NĂM TÙ TẠI PHILADELPHIA
 

 Vụ án Nexus Technologies, một công ty kinh doanh xuất khẩu của 3 anh em ruột người Mỹ gốc Việt họ Nguyễn ở Philadelphia, bang Pensylvania, Hoa Kỳ, đang làm xôn xao dư luận ở Mỹ và Châu Âu.

 Hãng tin Mỹ AP và hãng tin Pháp AFP đều đưa tin này hàng đầu. Toà án Philadelphia đã bắt đầu xử, nghe cáo trạng, lấy khẩu cung và điều tra sâu thêm, dự kiến đến tháng 7 sẽ có thể tuyên án. Vụ án này rất quan trọng vì vừa là một vụ buôn lậu lớn, vừa là một vụ rửa tiền lớn, còn thêm là một vụ hối lộ các quan chức Hà Nội.

Vụ này liên quan đến an ninh và quốc phòng của nước Mỹ, vì hàng xuất khẩu lậu từ Mỹ vào Việt Nam bao gồm những thiết bị kỹ thuật điện tử quân sự hiện đại, lên đến mấy chục triệu đôla Mỹ, như: trang thiết bị để vẽ bản đồ dưới mặt biển, thiết bị dò, tháo gỡ bom mìn, dò tìm các loại hóa chất, phụ tùng trực thăng, thiết bị viễn thông lắp đặt trên vệ tinh...

Luật pháp Mỹ rất nghiêm đối với lọai tội phạm này. Đã có riêng một bộ luật để xử, mang tên Foreign Corrupt Practices Act - Luật trừng phạt tội hối lộ cho người nước ngoài - viết tắt là FCPA.

Bài này bàn thêm về ảnh hưởng của vụ án đối với mối quan hệ giữa chế độ độc đảng cai trị đất nước với bà con ta trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Ðây là một vụ án tiêu biểu cho việc thực hiện Nghị quyết 36 của Ðảng Cộng sản, với nội dung ca ngợi 3 triệu bà con ta là "khúc ruột yêu thương của Tổ quốc", kêu gọi các nhà kinh doanh Việt kiều mang tiền của về kinh doanh, tham gia xây dựng quê hương.

Chắc hẳn 3 anh em ruột các ông Nam Nguyễn, Kim Nguyễn và An Nguyễn sau khi lập nghiệp phát đạt dựng lên công ty Nexus Technologies đã tin theo lời kêu gọi của Nghị quyết 36 để liều lĩnh lao vào những thương vụ béo bở mang tính mạo hiểm quá cao này.

Nay kết quả ra sao? Ba anh em họ Nguyễn đã bị truy tố. Công ty Nexus Technologies đã đóng cửa. Tiền bạc tài sản đã bị niêm phong. Công ty phải chuẩn bị nộp phạt 27 triệu đôla. Cả công ty và gia đình 3 anh em lo buồn, chới với, kinh hoàng, tỉnh ra là đã muộn, hối không kịp, không cái dại nào giống cái dại nào.

Kinh hoàng nhất là khi các chuyên gia luật đối chiếu Luật FCPA với tội trạng nhận định rằng ông Nam Nguyễn (54 tuổi) và ông An Nguyễn (34 tuổi) có thể bị tuyên án mỗi người 35 năm tù giam, còn ông Kim Nguyên (41 tuổi) có thể bị 30 năm tù giam. Thế là mất hết! Để xem chính quyền Hà Nội sẽ có thái độ ra sao. Rất nhiều khả năng là họ sẽ bỏ mặc 3 nạn nhân trong tai hoạ kinh khủng này, với cảnh sạt nghiệp và 105 năm tù lơ lửng trên đầu 3 Việt kiều "yêu nước" đã trót dại bùi tai khi nghe Nghị quyết 36 tán tỉnh ngọt ngào như mật.

Âu cũng là một bài học cực kỳ sâu sắc để đời cho bà con ta ở hải ngoại. Cảnh giác bao nhiêu cũng chưa đủ đối với chính quyền độc quyền đảng trị trong cơn khủng hoảng toàn diện triền miên hiện nay. Khi thì họ gọi bà con ta là "khúc ruột thân thương", khi thì chỉ là "khúc ruột thừa vô dụng", cắt bỏ không chút thương tiếc!

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Nexus Technologies Inc. and Three Employees
Plead Guilty to Paying Bribes to Vietnamese Officials
Company Agrees to Cease Operations and Dissolve

-- Nexus Technologies Inc., a Philadelphia-based export company, pleaded guilty today in connection with a conspiracy to bribe officials of the Vietnamese government in exchange for lucrative contracts to supply equipment and technology to Vietnamese government agencies, in violation of the Foreign Corrupt Practices Act (FCPA), announced Assistant Attorney General Lanny A. Breuer of the Criminal Division, U.S. Attorney Michael L. Levy for the Eastern District of Pennsylvania and Janice K. Fedarcyk, Special Agent in Charge of the FBI's Philadelphia Field Office. The president and owner of the company, Nam Nguyen, and his siblings and fellow Nexus personnel, Kim Nguyen and An Nguyen, also pleaded guilty today before U.S. District Court Judge Timothy J. Savage in connection with the conspiracy.

Nexus; Nam Nguyen, 54, of Houston and Vietnam; Kim Nguyen, 41, of Philadelphia; and An Nguyen, 34, of Philadelphia, were charged in a superseding indictment on Oct. 30, 2009, with conspiracy, violations of the FCPA, violations of the Travel Act in connection with commercial bribes and money laundering. Nexus pleaded guilty today to all the charges filed against the company in the superseding indictment. Nam and An Nguyen each pleaded guilty to conspiracy, a substantive FCPA violation, a violation of the Travel Act and money laundering. Kim Nguyen pleaded guilty to conspiracy, a substantive FCPA violation and money laundering. Former Nexus partner Joseph T. Lukas pleaded guilty on June 29, 2009, to conspiracy and to violating the FCPA.

According to court documents, Nexus was a privately-owned export company that identified U.S. vendors for contracts opened for bid by the Vietnamese government and other companies operating in Vietnam. The contracts allowed for the purchase of a wide variety of equipment and technology, including underwater mapping equipment, bomb containment equipment, helicopter parts, chemical detectors, satellite communication parts and air tracking systems. According to court documents, Nam Nguyen negotiated the contracts and bribes with the Vietnamese government agencies and employees. Kim Nguyen, vice president of Nexus, oversaw the U.S. operations and handled company finances. An Nguyen identified U.S. vendors to supply the goods needed to fulfill the contracts.

In connection with the guilty pleas, Nexus and the Nguyens admitted that from 1999 to 2008 they agreed to pay, and knowingly paid, bribes in excess of $250,000 to Vietnamese government officials in exchange for contracts with the agencies and companies for which the bribe recipients worked. The defendants admitted that the bribes were falsely described as "commissions" in the company's records. In pleading guilty, Nexus also acknowledged that, as a company, it operated primarily through criminal means and agreed to cease operations as a condition of the guilty plea.

At sentencing, scheduled for July 13, 2010, Nexus faces a maximum fine of $27 million. Nam and An Nguyen each face a maximum sentence of 35 years in prison. Kim Nguyen faces a maximum sentence of 30 years in prison.

The case was prosecuted by Trial Attorney Kathleen M Hamann of the Fraud Section and Assistant U.S. Attorney Jennifer Arbittier Williams for the Eastern District of Pennsylvania. The case was investigated by the Philadelphia and New Jersey field offices of the FBI and the U.S. Department of Commerce, Office of Export Enforcement.

The Justice Department acknowledges and expresses its appreciation for the assistance provided by the authorities of the Independent Commission Against Corruption of the Hong Kong Special Administrative Region.

SOURCE U.S. Department of Justice