Wednesday, October 5, 2011

Việt Nam Đi Về Đâu?

Việt Nam Đi Về Đâu?
 hỒ tẤn vinh
Đây là câu hỏi mà ai có suy tư về đất nước đều có khi tự hỏi mình.
Đây là nói chuyện tương lai.
Có những sự kiện ta có thể dựa vào mà tiên đoán không sai.
Có những cái ta không thể nào biết trước được.
 
Chủ nghĩa CS là sai lầm. Đây không phải là vấn đề ý thức hệ trừu tượng hay triết lý mông lung gì cả. Đây chỉ là vấn đề thiết thực của chén cơm mà thôi. Chủ nghĩa CS cản trở phát triển kinh tế, vì vậy chế độ CS ở Việt Nam sẽ phải bị thay thế. Đó là điều chắc chắn.
Trong quá trình thành lập chế độ CS ở Việt Nam, Việt Cộng đã giết quá nhiều nhà ái quốc và thường dân vô tội. Không thể nào những cái chết đó không ray rứt từng giờ từng phút lương tâm của người CS. Mặc dầu thân xác đã trở thành cát bụi, nhưng những hạt bụi tức tưởi đó đã dính vào bàn tay mà kẻ phạm tội nếu không có lòng thành khẩn không dễ dàng phủi đi. Người CS phải ăn năn và xin tội với nhân dân. Không ai có khả năng chỉa súng vào đầu người CS để bắt họ làm chuyện đó. Nhưng để có một chỗ đứng 'làm người' trong Chánh Sử thì đó là chuyện bắt buộc họ sẽ phải làm.
Sám hối dưới hình thức nào và khi nào thì chưa thể biết được.
 Lúc đầu thế kỷ, vì chưa va chạm vào thực tế, chủ nghĩa CS có thể tự gạt mình và gạt luôn thiên hạ, nhưng bây giờ thì cả thế giới ai cũng biết chủ nghĩa CS là sai. Cho nên dầu bề ngoài còn làm bộ nói cứng nhưng ngay chính người CS cũng biết mình là dõm. Vấn đề là họ có phải ôm cái sai lầm đến hết cuộc đời mình hay công khai hóa lúc còn sống.
Sám hối chỉ là cây thước đo chính họ. Coi ngày nay người CS có còn đủ can đãm đối diện với sự thật không?
Nếu họ làm được bây giờ thì ngay bây giờ họ cũng có thể hưởng được cái cảm giác kỳ diệu mà Đức Phật gọi là 'cái đáng phục nhứt của đời người' và một hai thế hệ sau, con cháu của họ khi nhắc đến họ đều có thể ngưỡng mộ.
Chẳng những vậy, chỉ khi nào có những dấu hiệu rõ rệt 'lãng tử hồi đầu' thì họ mới nhận được sự trợ giúp to lớn về trí lực và tài lực của người Việt hải ngoại. Thật ra, trước đây, vào những năm thập niên 80, người Việt hải ngoại có gián tiếp cứu sống CSVN qua số tiền gởi về giúp thân nhân. Nhưng đó chưa phải là sự trợ giúp tự nguyện, nhiệt tình và toàn lực. Một trợ giúp có ý thức ái quốc. Trợ giúp này to lớn đến mức nào, có thể chính người Việt hải ngoại cũng không ý thức hết tầm vóc tiềm lực của mình. Nhưng không có cái trợ lực này, chánh quyền Việt Nam đi đến đâu – dầu là đi thương lượng thương mại hay đi giao tiếp ngoại giao – vẫn mãi bị lép vế. Chỉ vì một lý do giản dị là quá khứ quá nặng nề nó đè cái đầu không thể ngẩng lên được. Chuyện thương lượng biên giới và hải phận với Trung Quốc là một bằng cớ.
Nếu họ chọn con đường dễ dàng cho mình và đùn cái gánh nặng đó cho những người CS hậu bối thì khi đó chính những con cháu của họ khi nhắc đến họ chỉ có thể tiếc nuối mà thôi.
Năm 1975, Việt Cộng có thể tự hào là đã đuổi người ngoại quốc ra khỏi và giành độc lập cho đất nước.
Nhưng ở các nước Bắc Phi thuộc địa của Pháp, Ben Bella đã giành được độc lập cho Algérie năm 1962, Vua Hassan II giành được độc lập cho Maroc năm 1956, Habib Bourghiba giành độc lập cho Tunisie năm 1956. Ba người này, không có ai là cộng sản cả. Nếu ở VN, CS không có xía vô thì người quốc gia đã giành hoàn toàn độc lập cho xứ sở từ lâu rồi và không phải tốn quá nhiều xương máu như đã phải chịu. Cho nên lấy cái 'giành được độc lập' mà hãnh diện là thấy như vậy mà không phải như vậy.
Hằng năm, vào ngày 30 tháng 4, CSVN thường tổ chức diễn hành trước Dinh Độc Lập. Nhưng ngày đó không phải là ngày toàn dân ăn mừng. Ngày đó, nhân dân miền Nam lo tìm đủ mọi cách để vượt biên không có ăn mừng. Ngày đó, Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát bị phỏng tay trên, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hối hận vô cùng, những người CS nằm vùng vỡ mộng, mấy người này không có ăn mừng. Ngày đó, nhân dân miền Bắc chờ đợi miền Nam thắng trận để họ được giải phóng luôn không có ăn mừng. Ngày đó thật sự chỉ có hai triệu đảng viên CS, quân đội và công an ăn mừng. Ngày đó giống như ngày ăn cướp đánh được một nhà giàu rồi lấy rượu thịt trong nhà ra nhậu với nhau. Từ năm 1945, cái ngày mà toàn dân mơ ước để ăn mừng nhiệt liệt chưa có đến.
Sở dĩ chế độ CS ở VN được thành lập và cho tới giờ này còn tồn tại là vì mặc dầu chống cộng là một chánh nghĩa, nhưng chánh nghĩa đó đã bị bọn cơ hội lạm dụng.
Trước năm 1975, không cần bàn đến những chủ trương, đường lối xa xôi gì cả, chỉ nội cái cá nhân tham lam, hành xử kiêu căng, cái tâm địa tàn ác, triệt tiêu các người khác chánh kiến của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cái mua quan bán tước công khai, kết bè kết đảng  của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ là đủ bôi lọ chánh nghĩa quốc gia rồi. Họ là những người lãnh đạo cuộc tranh đấu, hằng triệu triệu người nhìn vào các cử động của họ. Họ là cái gương. Mà cái gương đã chiếu ra quá nhiều tư dục và dã tâm thì cái chánh nghĩa họ kêu gọi, ai mà tin. Không phải quần chúng vong ân bỏ rơi lãnh tụ. Chính lãnh tụ đã tự mình phản bội trọng nhiệm của một lãnh tụ.
Sau năm 1975, việc chống cộng phải bị tách ra một ngã khác. Vì không còn hệ thống chánh quyền quốc gia nữa, nên không còn mối lợi thầu độc quyền nữa, chuyện chống cộng thành những trận võ tự do nho nhỏ.
Các ông Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch đều là những người dũng cảm. Nhưng kế hoạch dùng vũ lực của họ từ nước ngoài về đã phải thất bại. Mỗi người trong chúng ta đều có thể lý giải những cái thất bại đó khác nhau, nhưng chúng ta đều có thể thấy và đồng thuận là dùng vũ lực từ nước ngoài về là thất bại.
Nếu dùng võ không được thì dùng văn xem sao. Ông Trần Văn Lắm, cựu Chủ tịch Thượng Nghị Viện VNCH lúc sinh tiền cho rằng Việt Cộng vi phạm Hiệp Định Paris nên phải đem Việt Cộng ra Tòa Án Quốc tế. Còn GS Nguyễn Ngọc Huy thì để hết tâm tư và thời gian cho đến chết để thành lập Ủy Ban Quốc Tế Yễm Trợ VN Tự Do.
Thử lấy cái Ủy Ban này ra phân tách. Không dễ gì mời được một chánh khách tên tuổi vào Ủy Ban. Chắc chắn phải qua một sự giới thiệu hay dàn xếp sao đó, rồi phải hẹn hò, trình bày, thuyết phục thì mới mời người ta đuợc. Một hay hai năm sau cùng, mặc dầu bịnh ung thư đã phát rồi, Giáo Sư còn ráng qua Úc. Trong chuyến đi này, Giáo Sư đã được Thủ Lãnh John Howard của Đảng Tự Do lúc bấy giờ là Đảng Đối Lập tiếp kiến. Nhưng khi Giáo Sư mời John Howard vào Ủy Ban Quốc Tế Yễm Trợ Việt Nam Tự Do thì John Howard từ chối. Tới giờ chót, Ủy Ban cũng mời được một số người ở Âu, Mỹ, Úc, Gia Nã Đại.
Trong trường hợp mà GS Nguyễn Ngọc Huy không mất sớm và có thì giờ đi đây đi đó thì tối đa là Giáo Sư đi đến được một trăm nước và mời được một trăm ông Thủ Tướng, thì cái Ủy Ban đó là cái gì? Dạ thưa đó là Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bây giờ nếu Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhóm và biểu quyết rằng Việt Cộng là phiến loạn phải trao quyền lại cho người quốc gia thì sao?
Ngoại trừ có những bí ẩn động trời, chớ cái ý nghĩ rằng Việt Cộng sẽ run sợ một phán quyết của một Tòa Án Quốc Tế nào đó hay một cuộc biểu quyết của Đại Hội Đồng, rồi quỳ gối xuống dâng chánh quyền lên – là một ý nghĩ thật tình khó hiểu. Rồi ai dám về Hà Nội nhận cái bàn giao đó?
 Ta phải chia công cuộc chống cộng ra thành hai chủ  trương. Một chủ trương lật đổ chế độ CS và một chủ trương lên án CS.
CS Việt Nam là ngụy, nhưng họ đang có quyền lực. Lính CS biết bắn súng. Muốn lật đổ họ thì đối thủ cũng phải có một lực lượng. Lực lượng này có thể là một ngoại lực hay nội lực. Kẻ nào chọn dùng ngoại lực thì dầu có thành khẩn tới đâu rồi cũng có nguy cơ bán nước nhiều hơn là cơ may cứu nước. Tuy nhiên, ta chưa đến giai đoạn đó. Từ ba mươi sáu năm nay ta chỉ mới đi lòng vòng để không đi đến đâu.
Năm xưa, hồi thời chống Pháp, Việt Nam có hai đảng phái lừng danh. Đó là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng. Lúc khởi thủy, hai đảng này dùng hoàn toàn nội lực, và người Việt lớn hay nhỏ gì khi nghe nhắc đến hai đảng này đều tỏ ra vô cùng khâm phục. Sau năm 1975, khi ra ngoại quốc, đáng lý họ phải biết lợi dụng cái không khí tự do và an toàn để mà hội họp, bàn thảo và khuếch trương đảng, tăng cường nội lực nhưng các đảng quốc gia này đột nhiên có sáng kiến lạ lùng: họ tự chặt tay chơn của mình. Việc này cũng không cần giấu giếm. Từ việc lạnh lùng làm ngơ, bỏ rơi các đảng viên còn kẹt lại trong nước hay ở các trại tỵ nạn đến việc phân hóa chống đối nội bộ cho đến tàn lụi. Đây là một sự cố hết sức bất ngờ. Mà nội lực xưa nay vẫn là nền tảng tổ chức của một đảng ái quốc. Bây giờ thì – ai cũng có một chút bảo bối để cho là mình chánh thống – nhưng không ai có nội lực cả. Chẳng lẽ một đảng phái chỉ cần có một ban hội tề là đủ?
Chỉ có chủ trương dùng nội lực là đúng mà thôi. Mà nội lực là sự chung góp tài lực, trí lực, nhân lực của người Việt quốc gia tới giờ này không thực hiện được. Ngay chỗ này cũng cần minh bạch. Không phải ai cũng vô trách nhiệm hết. Chủ tiệm phở muốn đóng góp, chủ tiệm may muốn đóng góp, nghĩa là quần chúng rất nhiệt thành. Nhưng ai là người hiệu triệu? Ai dẫn đường?
Đâu phải khó khăn gì, chỉ cần nhìn vào những biểu hiện lúc sinh hoạt là có thể biết ngay! Các người tự cho mình là lãnh tụ quốc gia, các 'Sĩ phu hữu trách', các 'Đại thần' khi xưa chỉ cần giao thiệp với nhau hòa nhã, thân thiện, làm quyết định thật dân chủ, hợp tác với nhau thật chân thành để cho người dân – trong nước cũng như hải ngoại – nhìn vào một hình ảnh đẹp để mà so sánh. Cái mà họ cần làm – không phải là lên trời hái sao – mà làm sao tạo cho người dân lầm than trong nước cái cảm giác 'cũng là người Việt như nhau, nếu bọn CS bằng phân nửa người Việt hải ngoại thì đỡ khổ biết mấy!' Làm sao cho trong tối tăm những người cùng đường còn nuôi được một hy vọng.
Chán chường và khinh bỉ là những cảm xúc của con người tuyệt vọng. Cầu xin đừng tạo cho người dân Việt phải chịu những cảm giác này một lượt đến hai lần: 'nếu đuổi được đám CS này đi mà để đám hải ngoại kia về thì cũng như không!'
Ở Âu châu, ở Á châu, ở Mỹ châu, ở Phi châu, chỗ nào chữ 'Tự do' cũng viết bằng máu. Tự do không ai cho không, cũng không có ai đi tranh đấu giúp, phải tự mình đổ máu mới giành được. Trong lúc nội lực không có, lại cũng không chăm lo gầy dựng nội lực, mà hễ mở miệng ra là hô hào lật đổ chế độ CS ở Việt Nam thì quả thật là thê thảm, nó vừa khôi hài vừa tàn nhẫn.
Còn một khía cạnh thứ hai của công cuộc chống cộng là chủ trương lên án CS. Sự tự mình biết giới hạn là một hành động rất thiết thực và khôn khéo. Theo đường lối hành động này, từ ba mươi sáu năm nay người Việt đã tỏ ra vô cùng xuất sắc. Ở trong nước, các tôn giáo bằng hình thức này hay hình thức khác liên tục tố cáo các sai trái của chánh quyền CS. Ở ngoại quốc, các lãnh tụ CS khi đi công du đến đâu cũng gặp người Việt tập hợp phản đối. Những ngày lễ quan trọng như Tết Nguyên Đán, những kỷ niệm hãi hùng như ngày 30 tháng Tư đều được cộng đồng  nguời Việt Tự Do nhiệt tình tổ chức.
Thật là cảm động khi thấy các thanh niên mặc quân phục VNCH đứng trong nắng chang chang của Thành phố Richmond ca hát giúp đồng bào hưởng Tết tha hương. Thật là cảm động khi thấy các thiếu nữ trong áo dài tha thướt mời đồng bào mua dĩa nhạc của Phạm Quang Ngọc. Vô cùng hùng tráng là đoàn người từ các Tiểu bang tập hợp tại Canberra tưởng nhớ ngày Quốc nhục.
Uy vũ khuất phục không được, tiền bạc mua chuộc không được, ngạo nghễ với thời gian vẫn là các văn nhân, nghệ sĩ Việt nam khắp năm châu.
Nhưng những hành động bất bạo động này không thể lật đổ bạo quyền. Nó chỉ có giá trị tinh thần là nhắc nhở cho mọi người - nhứt là người CS - rằng chế độ CS là sai lầm, hại dân hại nước. Chế độ đó cần phải thay đổi.
Áp bức, bóc lột, bất công luôn luôn là lý do khiến người ta giương cờ Đại Nghĩa. Việt Nam ngày nay cũng lại cai trị bằng  'Ba Bê' mà tự xưng là làm cách mạng là sao? Quốc gia chia rẽ. Giai cấp lãnh đạo áp bức giai cấp bị trị. Việc người bóc lột người không còn bị coi là vô luân đáng hỗ thẹn mà nó lại được nhìn nhận là 'tự nhiên trong giai đoạn quá độ'. Nhân tâm ly tán. Người có chánh quyền trong tay có thể lợi dụng được ưu thế đó để kiếm 'đồng tiền dễ dàng'  mà sống phè phởn và người dân là công dân hạng hai phải giả đui, giả điếc để sống qua ngày. Đó là cách tốt nhứt để thi hành một câu ân cần mà cán bộ CS thường khuyên nhủ 'đừng có chỉ trích Đảng, ngoài ra thì muốn làm cái gì cũng được'.
Ai cũng muốn thay đổi tình trạng tự do phân nửa đó. Bất mãn thì có nhiều, nhưng những bất mãn này còn trong trình trạng rời rạc, chỉ là những hạt cát. Còn thiếu chất xi măng.
Tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu?
Có hai trường hợp có thể xảy ra.
Trường hợp thứ nhứt là khi sự lạm dụng chánh quyển đến mức quá độ và đường lối phát triển sai lầm đưa đến nền kinh tế suy sụp khiến người dân chịu không nổi hai gọng kềm này nữa thì bắt buộc phải xảy ra 'cùng tất biến'.
Cụ thể mà nói, khi nào có đất để bán hay cho mướn, hay khi nào còn mượn tiền của ngoại quốc được hay khi nào còn ký được những hợp đồng béo bở, thì đời sống vẫn còn thoải mái. Nhưng mãnh đất chỉ bán được một lần thì thôi. Đất cho ngoại quốc mướn làm đồn điền hay hãng xưởng thì cũng phải giao kèo gần một trăm năm. Còn tiền nợ ngoại quốc đến lúc trả tiền lời không nỗi nữa thì người ta đâu có cho mượn tiếp. Còn hợp đồng thì đâu có hoài để ký . . .
Trong bối cảnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ đến VN giống như một người bịnh ngặt nghèo đang nằm trên xe cứu thương mà lại bị thêm tai nạn lưu thông nữa . . .
Thiên hạ không còn có tiền nhiều để mua hàng nhập cảng nói chung thì hàng hóa xuất khẩu của VN cũng sẽ giảm. Hàng gia công như giày dép, áo quần cũng sẽ giảm, ngay cả chuyện đau lòng và nhục nhã nhất như nhân công xuất khẩu cũng sẽ giảm. Các kế hoạch xây cất khách sạn mới sẽ ngưng. Khách du lịch ngoại quốc sẽ giảm. Ngay cả tiền ăn nhậu của các cán bộ tham nhũng, của dân làm áp phe đã giúp các quán, các bar sống nhộn nhịp trước đây cũng sẽ giảm. . .
Những nhân công trước đây dù đồng lương ít ỏi nhưng vẫn có thể tự nuôi mình và có chút tiền nuôi gia đình. Bây giờ nếu họ bị thất nghiệp thì họ không còn đất đai ở nhà quê để mà trở về trồng trọt. Chén cơm bắt đầu phải chia hai rồi chia bốn. Chẳng bao lâu nữa, 80 triệu người Việt Nam sẽ bị kẹt cứng. Lúc đó chất xi măng sẽ xuất hiện.
Cái ngày bi đát đó sớm muộn gì rồi cũng phải đến vì bốn nguyên do khách quan. Dân số gia tăng. Tài nguyên giảm. Cạnh tranh quốc tế sẽ khốc liệt hơn và cuối cùng là cái bất tài lãnh đạo. Cái ngày bi đát đó cũng tự nó có mâu thuẩn. Cái ngày đó không thể một sớm một chiều mà đến liền được. Nếu vô casino đánh bài thì một đêm có thể thua một tỷ đô, nhưng nếu muốn phá nát cả nước VN thì phải cần nhiều năm lắm.
Trong lãnh vực kinh tế, hễ tỷ lệ phát triển ba năm liền mà âm thì là khủng hoảng kinh tế. Nhưng có khi không cần có khủng hoảng kinh tế mới có đại loạn. Nếu trong nước mà đời sống quá chênh lệch, một số ít quá giàu và phung phí tiền bạc ngang tàng và số đông quá nghèo, cơm không đủ ăn, nếu số người ở tù quá đông chỉ vì có ý kiến khác với chánh quyền, thì đó là những dấu hiệu chắc chắn của bất ổn xã hội sắp xảy ra.
Trong một nước, luôn luôn có một lực lượng xây dựng và một lực lượng phá hoại. Hễ xây dựng nhiều mà phá hoại ít thì có tiến bộ. Ngược lại xây dựng ít mà phá hoại nhiều thì nước sẽ đi thụt lùi. Hể cứ thụt lùi hoài thì sẽ đến ngày tàn lụi. Ai ai cũng mong mỏi ngày tàn lụi của CS đến càng sớm càng hay nhưng có nhiều lý do khiến ngày đó vẫn còn xa xôi. Nhưng ngày đó sẽ đến khi nước VN kiệt quệ. Ngày mong mỏi đó cũng là ngày đáng sợ nhứt. Cứ để theo tự nhiên, ngày đó sẽ đến như một chiếc xe tuột dốc mà không có thắng.
Thế giới ngày nay có quá nhiều thiên tai. Ngay cả những nuớc giàu có cũng khó khăn lắm mới cứu trợ thiên tai trong nước của mình. Cho nên việc cứu trợ quốc tế sẽ dần dần chỉ có tính cách tượng trưng.
Nếu lúc đó lại có thêm thiên tai thì nước VN sẽ vô cùng tàn nhẫn. Chính quyền sẽ không có khả năng cứu trợ sẽ xẩy ra tình trạng ai chết mặc ai.
Trường hợp thứ hai là có người CS thức thời muốn tránh cái nguy cơ trên thì phải hành động trước. Trói buộc người dân vào chủ nghĩa CS là người CS thì cởi trói cho người dân khỏi chủ nghĩa CS cũng phải là người CS. Đảng CSVN phải theo cái gương của Liên Sô.
Đứng chung với người CS phản động, tôi tin rằng vẫn có những đảng viên thành tâm và sáng suốt. Và những người này cũng biết đau lòng vì tình trạng đất nước. Chắc chắn rồi đây, trong số những người này, sẽ có người đủ hùng tâm, dũng khí để làm những chuyện phải làm. Đây là một chọn lựa rất khó khăn vì muốn đi con đường gian nan này thì phải bắt đầu bằng sự tự nguyện hy sinh những lợi lộc nhứt thời. Nhưng đây cũng là con đường vinh quang. Kết hợp trăm họ về một mối, đoàn tụ anh em, tạo dựng hạnh phúc cho mọi người xưa nay vẫn là hành động của những Đại Nhân.
Đế quốc Liên Xô tháo gỡ được thành công là nhờ Thế Giới Tự Do khuyến khích về tinh thần và giúp đỡ về vật chất.
Nguời Việt Tự Do thật sự yêu nước cũng phải giúp đỡ CSVN trong tiến trình này.
Thời gian nghiêng về đâu?
Đối với người Việt Tự do ở hải ngoại, nếu họ ở khoảng tuổi 60-80, bao nhiêu phấn đấu, cực khổ để định cư đã qua. Bây giờ  cuộc đời của họ đã ổn định rồi. Chén cơm, manh áo không còn phải lo nữa. An hưởng tuổi già chung quanh con cháu là hữu phước rồi, còn mong muốn gì hơn?
Nếu họ ở tuổi 30-50 thì hầu như đa số đã trải qua ít nhứt một lớp huấn luyện sinh ngữ để hòa nhập vào xã hội mới, một số đã được huấn luyện nghề nghiệp chuyên môn để tự lập, một số đã tốt nghiệp Đại học. Một số đã là tỷ phú rồi. Một số không ít đã nổi danh. Tất cả đều có công ăn việc làm. Tương lai rực rỡ mở rộng cho họ. Không ai có ảo vọng về VN tranh giành chức tước.
Đối với người Việt Tự do dầu ở lứa tuổi nào, nước VN có bị CS giày vò như thế nào và cho đến chừng nào, không có làm thiệt hại gì đến đời sống của họ hết. VN đã trở thành một dĩ vãng, một dĩ vãng có cả đau buồn và luyến tiếc. Nhưng chắc không còn ai dám đổ máu vì cái dĩ vãng xa xôi đó nữa. Thời gian giúp con người chấp nhận thực tế. Mặc dầu tình nước vẫn vấn vương, nhưng vấn đề VN không phải là vấn đề sinh tử đối với người Việt hải ngoại.
Trong bối cảnh đời sống thành đạt và phồn vinh của người Việt hải ngoại, thử lấy vấn đề nhân dụng ra bàn. Chắc chắn lương của một giám đốc ngân hàng ở các nước tiền tiến là phải hơn nhiều lương của một giám đốc ngân hàng ở VN. Tự nguyện bỏ  đồng lương lớn để lấy đồng lương nhỏ chỉ có thể xảy ra nếu có một động cơ ái quốc mãnh liệt. Nhưng lòng ái quốc này không còn bồng bột như xưa, lúc thanh niên lên đường ca hát vang trời 'Mùa thu rồi, ngày hai mươi ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. . . Rền khắp trời, lời hoan hô . . .'
 Vì cái kinh nghiệm của lịch sử, vì kiến thức có mở rộng hơn, vì cái dấn thân vào chỗ mơ hồ là quá phiêu lưu, nên cái đắn đo là tất nhiên.
Vì vậy khoan vội coi vấn đề trọng dụng nhân tài là đơn giản. Người có tự trọng không thể nào đi phục vụ cho một chế độ độc tài. Người có tài ba không thể đành lòng phí phạm thời giờ của mình với một chánh sách sai. Cho nên không hẳn phải dẹp bỏ liền đảng CS, nhưng vấn đề chia quyền phải được thẳng thắn đặt ra.
Nghe nói đến chia quyền là người ta thường, bĩu môi, khinh bỉ, vì nghĩ đến việc chia chác quyền lợi. Nhưng chia quyền trong chánh trị là một kỹ thuật tổ chức của những người thành tâm và viễn kiến tự bày ra để bảo đảm dân chủ, chẳng hạn chia quyền ra bốn cơ quan độc lập: hành pháp, lập pháp, tư pháp, ngôn luận để các cơ quan này kềm chế lẫn nhau, thì mới tránh được sự lạm dụng quyền hành. Chia quyền là tinh túy của tư tưởng chánh trị cổ kim.
Vì vậy, xin khoan vội hiểu 'chia quyền' là mời vài người Việt ở hải ngoại tham chánh là đủ. Chia quyền đây phải là bước đầu tiên để trả quyền chánh trị lại cho nhân dân, mà đại bộ phận của nhân dân là người trong nước. Và chia quyền lại không có nghĩa mời vài người ngoài đảng vào nội các trong nhiệm vụ thừa hành lệnh của đảng CS. Chia quyền phải thật sự là chấp nhận người ngoài đảng CS có quyền thảo luận và quyết định chánh sách của cả nước.
Thời phong kiến, các Vua anh minh không tự mình độc đoán trị dân mà lại tìm kiếm nhân tài. Người được giao trọng nhiệm được tự do sáng kiến, tận hết khả năng để làm việc. Và có khi để thật hữu hiệu, và để tỏ rõ quyết tâm, Vua còn ban cho quyền 'tiền trảm hậu tấu'. Ngày nay, nếu đảng CS vẫn cứ bo bo giữ độc quyền cai trị và kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt của người dân thì làm gì có nhân tài hưởng ứng?
Chỉ khi nào VN có thay đổi và nếu đất nước thật sự cần đến, thì nguời Việt hải ngoại chắc chắn không từ chối hợp tác. Không chỉ hợp tác về nhân sự mà là một sự hợp tác toàn diện, nó bao gồm cả kinh tế, tài chánh, thương mại, văn hoá. . . Hợp tác là đã hy sinh rồi. Ngoại trừ một số người cơ hội muốn thừa nước đục thả câu, còn phải chờ đến chừng nào thì chờ, chớ người có khả năng đâu có nôn nóng. Thời gian không có thúc người Việt hải ngoại được.
Năm xưa trong lúc tranh quyền, người CS có giết các nhà ái quốc đó là tội phản nghịch. Sau năm 1975, trong suốt hơn ba mươi sáu năm, chủ nghĩa CS không đem đến hạnh phúc cho nhân dân. Còn tiếp tục tôn thờ một chủ nghĩa đã sai là tội bất tài tập thể. Sau đó, biết rất rõ có cách để khai thông bế tắc mà không chân thành với chính mình, không đủ can đãm yêu nước, đây là tội tư kỷ. Cả hai tội này gom lại là một tội mới, tội cột chân nhân dân không cho tiến lên. Đừng tưởng thời gian sẽ xóa tội này được. Thời gian càng kéo dài, đất nước càng trì trệ, nhân dân càng đau khổ, thì cái tội này càng lớn.
Không cần phải là Trạng Trình cũng có thể biết chắc chắn là sau này Việt Nam sẽ là một nước thịnh vượng. Tài nguyên dồi dào. Người dân làm việc cần cù, trí óc thông minh và sống có đạo lý. Đó là các điều kiện cần thiết – nhưng chưa phải là đủ. Còn phải có nhân hòa nữa. Cho nên cái thịnh vượng này không chỉ đo bằng số lượng xe hơi, TV, tủ lạnh mà người dân mua được, mà nó còn phải biểu lộ ra bằng nếp sống hài hòa và cái tự do tự quyết của nguời dân.
Gia hòa vạn sự hưng. Cũng không cần phải là Trạng Trình cũng có thể biết rằng sự thịnh vượng này chỉ có thể đạt được nếu tất cả người dân có cơ hội đóng góp. Sự thịnh vượng này đến sớm hơn nếu có người Việt hải ngoại tiếp sức.
Tấm lòng yêu nước của mỗi người liên hệ có cao hay thấp không tùy thuộc vào sự kiên trì chỉ trích đối phương mà tùy thuộc hoàn toàn vào cái thành tâm và cái can đảm của mỗi người tự nhận lỗi của chính mình.
Tình tự dân tộc bấy lâu nay là nói nhảm, chừng đó mới thật sự bắt đầu.
 
hỒ tẤn vinh
Khởi viết ngày 13 tháng hai 2009
Bây giờ là tháng 10 năm 2011
mọi sự việc vẫn còn như vậy
            Melbourne

Tuesday, October 4, 2011

Người Việt hải ngoại có thể Truy tố tội ác Cộng sản trước các Tòa án quốc tế không ?

Người Việt hải ngoại có thể Truy tố tội ác Cộng sản trước các Tòa án quốc tế không ?


2011-09-23 | | Quê Mẹ

PARIS, ngày 23.9.2011 (QUÊ MẸ) - Trong thời gian qua, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam nhận được rất nhiều thư của bạn đọc khắp năm châu gửi về hỏi Người Việt hải ngoại có khả năng Truy tố tội ác Cộng sản trước các Tòa án quốc tế không ? Nếu được thì phải làm sao, làm gì ?

Thật thế, từ 20 năm qua nhiều cá nhân hay đoàn thể công bố ý định thu tập hồ sơ và đưa Cộng sản Việt Nam ra kiện trước Tòa án quốc tế về những tội ác mà Đảng vi phạm đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế, v.v… Tuy nhiên cho tới nay, chưa thấy các cá nhân hay đoàn thể ấy công bố việc kiện tụng ấy đi đến đâu, thành quả ra sao.

Do sự có mặt và hoạt động trên trường quốc tế 36 năm qua, chúng tôi xin được trả lời việc truy tố tội ác Cộng sản trước các tòa án quốc tế có thể thực hiện hay không.

Trước hết các tòa án quốc tế là tòa án nào ? Có hai tòa án quốc tế :

Một là, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ, the International Court of Justice), trụ sở đặt tại Hòa Lan ở thành phố The Hague, là một cơ quan thuộc LHQ ra đời năm 1945 chiếu theo Hiến chương LHQ. Tòa án này bắt đầu hoạt động từ tháng tư năm 1946. Vai trò của tòa là áp dụng các luật pháp quốc tế để dàn xếp pháp lý các tranh chấp do các quốc gia đệ trình, và cho những ý kiến tham vấn trên các vấn nạn pháp lý đến từ những cơ cấu có thực quyền của LHQ hoặc các sở cục chuyên biệt.

Như vậy các cá nhân hay đoàn thể, tổ chức của người Việt hải ngoại không thể truy tố nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước Tòa án Công lý Quốc tế. Ngoại trừ các cá nhân hay đoàn thể, tổ chức của người Việt hải ngoại vận động được một quốc gia nào đó trong thế giới chấp thuận thay cá nhân hay đoàn thể, tổ chức của người Việt hải ngoại đứng tên kiện nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Nói tóm, Tòa án Công lý Quốc tế chỉ thụ lý hồ sơ của một quốc gia kiện một quốc gia khác.

Hai là, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC, the International Criminal Court) ra đời theo Quy chế Rome ký ngày 17.7.1998, nhưng chỉ có hiệu lực kể từ ngày 1.7.2002. Tòa án Hình sự Quốc tế có quyềnlực pháp lý xét xử nạn diệt chủng, các tội ác chống nhân loại, và tội phạm chiến tranh xẩy ra sau ngày 1.7.2002, nghĩa là ngày Tòa án Công lý Quốc tế có hiệu lực. Như thế thì việc kiện các vụ xẩy ra trước ngày 1.7.2002, chẳng hạn như Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế là bất khả thi.

Trái lại với Tòa án Công lý Quốc tế, tại Tòa án Hình sự Quốc tế, các cá nhân, đoàn thể, tổ chức Phi chính phủ có quyền nộp đơn kiện, với điều kiện quốc gia đưa ra kiện đã tham gia ký kết Quy chế Rome. Việt Nam chưa tham gia ký kết quy chế này. Vậy thì trong trường hợp muốn kiện Việt Nam Cộng sản và để cho Tòa án Hình sự Quốc tế có thể thụ lý hồ sơ về những tội ác vi phạm tại Việt Nam sau ngày 1.7.2002, cần phải được Hội đồng Bảo an LHQ chuyển sự vụ đến Tòa án Hình sự Quốc tế (như việc đã xẩy ra cho Libya và Sudan-Dafur).

Xem thế những nỗ lực mà từ 20 năm qua một số cá nhân, đoàn thể người Việt công bố ý định truy tố tội ác Cộng sản nhưng chẳng đưa tới một kết quả nào, là vì những cá nhân hay đoàn thể này chỉ xuất phát từ ý chí chống Cộng, nhưng lại không am hiểu các cơ cấu pháp lý quốc tế đáp ứng hay không với ước muốn của mình.

Cho nên, hưởng ứng ý định truy tố tội ác Cộng sản là việc đáng làm, phải làm, cần làm khẩn cấp, nhưng chớ mất thì giờ, mất tiền bạc cho những cuộc quyên góp nói là "Kiện Cộng sản trước các tòa án quốc tế" nhưng thực tế chỉ nhằm lợi dụng lòng căm thù cộng sản của quần chúng để dấy động các viễn đồ phe phái, hơn là quan tâm thực hiện công lý quốc tế trong việc truy tố tội ác Cộng sản.

Trên mặt pháp lý, sáu chữ "Truy tố tội ác Cộng sản" rất mơ hồ. Tại các pháp đình quốc gia hay quốc tế, ai cũng có quyền truy tố một cá nhân cộng sản, tên Nguyễn Văn X chẳng hạn, với đầy đủ hồ sơ, chứng liệu, nhân chứng. Song chẳng có pháp đình nào xử "tội ác Cộng sản" khơi khơi, nửa vời như thế. Pháp đình cần biết tội ác gì, vào lúc nào và do AI phạm.

Năm 2009 trong một bức thư viết ngày 29.5.2009 đề cập tới nhiều vấn đề tranh đấu cho nhân quyền gửi ông chính trị gia Nguyễn Quốc Nam tại Paris, chúng tôi đưa ra một trong 4 góp ý về việc ông Nam tổ chức bữa cơm gây qũy tại chùa Khánh Anh và kêu gọi đóng góp cho Hồ sơ Kiện Hà Nội tại LHQ, mà ông Nam gọi là "HỒ SƠ vô cùng quan trọng (…) Làmđượcđiềuđó,chúng ta mới cóđượcTƯ THẾ CHỦĐỘNGđánh vào MỘT TRONG NHỮNGTỮ HUYỆTcủa tậpđoàn MafiaHà Nội" (chúng tôi dẫn nguyên câu ông Nam kêu gọi với các lỗi chính tả và cách ông viết hoa).

Lúc ấy chúng tôi đã khẳng định với ông Nguyễn Quốc Nam rằng :

"Tôi dám khẳng định 99% là hồ sơ các anh sắp nộp, sau khi nhận được mẩu biên lai, là chìm vào hố lãng quên. Vì các cơ cấu nhân quyền LHQ chẳng giúp gì cho các anh, thêm Trục Cực Quyền sẽ tẩy phá tất cả những chi các anh dự tính.

"Cho nên tôi rất e sợ câu viết của anh tuy rôm rả, hay ho : "HỒ SƠ vô cùng quan trọng (…) Làmđượcđiềuđó,chúng ta mới cóđượcTƯ THẾ CHỦĐỘNGđánh vào MỘT TRONG NHỮNGTỮ HUYỆTcủa tậpđoàn MafiaHà Nội". Nếu anh không thực hiện được 20% của ý muốn sẽ làm thất vọng quần chúng đấu tranh đang trông đợi ở sự khôn ngoan, giỏi giắn và chuyên nghiệp của anh và các bạn".

Quả như thế, hai năm qua, không thấy ông Nguyễn Quốc Nam cho đồng bào biết tiền bạc thu được dùng vào việc gì, cuộc kiện tụng ấy đi đến đâu, kết quả ra sao ?

Như thế thì pháp lý quốc tế chẳng đáp ứng gì cho việc truy tố tội ác cộng sản Việt Nam hay sao ?

Có nhưng khó khăn và phức tạp.

Pháp lý quốc tế là nguyên tắc được chấp nhận từ cuối Thế chiến thứ hai đối với một số tội ác như nạn diệt chủng, chiến tranh, tra tấn, mất tích… khiến nhân loại tổn thương. Các tội ác này có thể đưa ra xử tại bất cứ quốc gia nào. Tốt hơn hết là các tội ác này được xử tại các nước sở tại. Nhưng nếu không thể thực hiện các vụ xử, như tại Việt Nam cộng sản ngày nay, bất cứ ai cũng có thể nộp đơn kiện tại một nước thứ ba – thuật ngữ gọi là "Forum state".

Đã có 125 quốc gia tham gia ký kết Pháp lý quốc tế và đặt pháp lý này trong khuôn khổ luật pháp quốc gia, từ đó trở thành Forum state để thụ lý các hồ sơ thưa kiện của nạn nhân hay các tổ chức Phi chính phủ. Hiện nay, Châu Âu là các quốc gia dễ dàng chấp nhận việc thưa kiện này. Tuy nhiên việc thụ lý rất phức tạp, do mỗi quốc gia có một cách hành xử riêng, và thời gian thưa kiện khá dài. Những khó khăn, phức tạp gồm có :

1. Thời hiệubị giới hạn : những sự kiện tranh tụng không được xẩy ra quá lâu. Ở Pháp giới hạn là 10 năm, ở Đức 20 năm. Ít có quốc gia nào chấp nhận quá thời gian ấy. Do đó, tranh tụng vụ Cải cách Ruộng đất hay Mậu Thân Huế không thể thực hiện.

2. Sự có mặt của bị can : Bị can phải có mặt tại tòa án của quốc gia thứ ba (Forum State) vào lúc thụ lý đơn kiện (như ở Pháp), vào lúc thụ lý đơn kiện và trong thời gian điều tra (như ở Canada, Hòa Lan), hoặc lúc tòa xét xử (như ở Đức, Tây Ban Nha, Tiệp, Ỳ Đại Lợi, Na Uy).

3. Hồ sơ vững chắc : Để một nước thứ ba (Forum state) thụ lý đơn kiện, hồ sơ phải vững chắc, với sự có mặt của nhân chứng (First hand witnesses) hay các gia đình người bị giết, những chứng cớ phạm tội của bị can. Không thể sử dụng các phúc trình hay những nhân chứng ngoại cuộc thứ ba.

4. Quyền miễn trừ ngoại giao : Các vị Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng được miễn trừ ngoại giao, không ai được truy tố, ngoại trừ tại Tòa án Hình sự Quốc tế. Nhưng lắm khi các quốc gia thứ ba cho quyền miễn trừ các cựu bộ trưởng. Chẳng hạn năm 2004, Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền truy tố ông Donald Rumsfeld, cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, về những tội ác tại Iraq, nhưng Pháp đã cho quyền miễn trừ và bác bỏ đơn kiện.

5. Áp lực chính trị : Trong nhiều trường hợp quốc gia thứ ba (Forum state) không muốn áp dụng pháp lý quốc tế vì nguy hại đến liên hệ ngoại giao. Ví dụ năm 2003 đơn kiện truy tố ông Tommy Franks, Chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ tại Iraq, ở Vương quốc Bỉ. Nhưng Bỉ đã bác bỏ ngay, vì Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Donald Rumfelds, hăm dọa nếu Bỉ thụ lý hồ sơ, Hoa Kỳ sẽ dời trụ sở OTAN ở Bỉ sang một quốc gia khác.

Riêng tại Hoa Kỳ, có hai sắc luật mà người Việt tị nạn có thể dùng để truy tố, đó là :

1. Alien Tort Claim Act (ATCA) ra đời từ năm 1798. Đây là trình tự tố tụng trong vụ kiện dân sự, chứ không phải hình sự. Những người chưa phải là công dân Hoa Kỳ có thể đâm đơn kiện những công dân nước khác (Việt Cộng chẳng hạn), mà không bị thời hiệu giới hạn. Tuy nhiên bị can phải vào Hoa Kỳ lúc đơn kiện được thụ lý. Hơn 200 năm qua chỉ có vài trường hợp thành công mà thôi.

2. Torture Victim Prevention Act được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua năm 1991. Tuy nhiên các sự kiện truy tố không được xẩy ra quá 10 năm.

Kết luận :

Điều quan tâm và phải truy tố tức khắc là những vi phạm ĐANG xẩy ra trong nước (các vi phạm nhân quyền đối với mọi giới kể cả thiếu nhi và phụ nữ, các vụ đàn áp tôn giáo, đàn áp người sắc tộc, đàn áp người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, v.v…).

Vì sao cứ lôi kéo những "tội ác Cộng sản" xẩy ra bốn chục, năm chục năm trước, đã quá thời hiệu, trong khi im lặng hay làm ngơ trước các tội ác, cũng của chế độ Cộng sản, ĐANG xẩy ra hằng ngày trên đất nước Việt Nam ?!

Không thể kêu gào "Truy tố tội ác Cộng sản" đồng thời với những lời công kích trên Paltalk, hay bài viết tung lên Mạng Internet hằng ngày đánh phá các đoàn thể, tôn giáo thuộc phe dân tộc, mà hậu quả thấy rõ chỉ làm phân hóa và ly gián Cộng đồng Người Việt Hải ngoại. Dù lời công kích, bài viết hóa trang dưới mỹ từ "Chống Cộng".

Thực tế, các lối công kích hay bài viết như thế cho đến nay vốn xuất phát từ cơ quan phản gián của Bộ Công an Hà Nội, chẳng hạn như A16 thuộc Bộ Công an, tương đương với X15 Cục 2 Bộ Quốc phòng chuyên trách biên soạn tài liệu phản gián giả (thông tin giả, tư liệu giả, hình ảnh giả, nhằm ly gián Cộng đồng người Việt hải ngoại và bôi nhọ, vu hãm các nhà đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ trong và ngoài nước, mà chúng ta thấy phát hành thường trực trên Mạng qua một số Cây bút "chống Cộng" hay Trang nhà "chống Cộng" hiện hữu tại Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi.

Không thể tiếp tục gọi kêu suông cho việc "Truy tố tội ác Cộng sản" hay gọi kêu "Đoàn kết", khi bản thân các tay viết hay trang nhà nói trên chưa hề có một Hành Động Chống Chia rẽ nào cả, chưa từng tham gia tố cáo Hà Nội trong các tội phạm hiện tại trên các Diễn đàn thế giới.

http://bit.ly/pAUUVY

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG: CSVN VÀ NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG: CSVN VÀ NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI
 

Hồ Tấn Vinh

THẾ YẾU CỦA CHÁNH QUYỀN CSVN
Con người sinh ra, lớn lên rồi chết đi là cái lẽ biến thiên của cuộc đời. Một chế độ dựng lên rồi sập xuống cũng là cái lẽ biến thiên của cuộc đời. Nó có thể lâu hay mau, bền vững hay chết non là do nhiều sự kiện cộng lại. Nhưng một chế độ không thể ở lỳ hoài được. Nhưng ngoài cái lý do sinh diệt bình thường, chế độ CSVN còn có những lý do riêng biệt để mà tự hủy lẹ hơn.

Sau hơn 36 năm cầm quyền đảng CSVN đã có quá dư thời gian để chứng tỏ rằng mình không có khả năng đem đến hạnh phúc cho nhân dân, đưa đến nước mạnh dân giàu Ngoài chuyện tàn phá tài nguyên, phí phạm tiền viện trợ quốc tế, không bảo vệ nổi lãnh thổ của cha ông để lại, xã hội xô bồ, đạp lên nhau mà sống, người CS còn làm thêm một tội tầy trời, đó là làm nhục nước.

Trong bất kỳ chế độ nào, cũng có khi chính người nguyên thủ hay một vài 'đại gia' bất tín, bất nghĩa. Nhưng chưa từng có một chế độ nào mà 2 triệu đảng viên từ cấp thấp nhứt đến cấp cao nhứt đều ăn nói ngang ngược với dân một cách tỉnh queo. Sau hơn 36 năm hống hách với nhân dân cho sướng miệng, người CS đối với ngoại quốc lại vẫn chưa bỏ được tâm lý đi ăn mày và đổ thừa tất cả cho chiến tranh.

Những cái thích thú khuếch khoác khoe khoan, ăn ngược nói ngạo, bội tín, bội nghĩa, lưu manh gạt gẫm, bịa đặt vu oan, nói một đường làm một ngã  - lúc đầu tưởng đâu là vô tội vạ vì có ai dám cải với cây AK - không dè với thời gian nó trở thành chứng bịnh ung thư. Đối với người dân trong nước dưới tay mình hay đối với người ngoại quốc đến làm ăn với mình, người CSVN đã tạo ra một ấn tượng khó bôi: họ là những người bán khai, thô lổ, không thể tin được. Họ đã tự mình loại mình ra khỏi tập thể có phép tắc cư xử văn minh. Và nếu muốn nước Việt Nam tiến lên, CSVN không thể nào tiếp tục đại diện cho chữ thành tín để đi giao tiếp. Muốn người ta lại tin vào VN nữa thì phải nhờ đến người khác. Cùng một lúc tàn phá đất nước về mặt vật chất, người CSVN cũng tàn phá đất nước về mặt tinh thần và văn hóa. Các dấu hiệu của sự tan rả của chế độ đã quá rõ rệt.

Trong cái bối cảnh suy đối này, CSVN bây giờ đang lung túng cả về đối ngoại lẫn đối nội. Phải đương đầu với Trung quốc vì những tranh chấp đất đai và hãi đảo. Phải đương đầu với dân chúng vì những cuộc biểu tình.

Trong tương lai, kết quả của những đối phó này sẽ ra sao?

Đối với Trung quốc, CSVN bị lép vế vì hai lý do.
Thứ nhứt, Trung quốc quá mạnh về kinh tế và quân sự so với Việt Nam cho nên mặc dầu có những luật lệ quốc tế để phân xử các tranh chấp giữa các quốc gia, nhưng trên thực tế, ngay cả ngày nay, ai có khả năng chiếm đất trước và giữ được nó là của họ (Anh quốc thắng Argentina ở Falklands).

Điểm thứ hai
là cái nợ ân tình. Trung Quốc đã bỏ tiền của, súng đạn giúp CSVN chiếm lấy miền Nam thì bây giờ CSVN phải hồi báo lại thì mới đúng là tình hữu nghị.

36 năm là quá dài để cho Trung quốc dư thời gian đưa cán bộ tình báo qua Việt Nam để cấu kết với cán bộ VN thân Trung Quốc và lập kế loại trừ những cán bộ không thân thiện. Cho nên đảng CSVN bây giờ nằm gọn trong tay của Trung Quốc rồi. Quyền lực, tiền tài, cơ sở làm ăn mà bây giờ các người đang cai trị VN có, là nhờ có Trung Quốc xấp xếp. CSVN đâu có cách nào quỵt nợ ân tình được. CSVN đâu có thể nào làm nghịch ý Trung Quốc được. Chỉ khi nào Việt Nam có một chánh thể khác thì cái nợ ân tình này mới có thể đem ra bàn lại.

Còn các cuộc biểu tình ở các thành phố thì sẽ ra sao?

Lý do trước mắt là sự nhượng bộ về chủ quyền các hãi đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nếu ta đi hỏi người dân ở Cần Thơ hay ở Bắc Lạng các đảo đó ở đâu thì hầu như không ai biết nó ở đâu cả. Những người biết các đảo đó ở đâu là đa số là các giáo sư Sử Địa, các sinh viên và một số trí thức khác. Tổng cộng lại, họ không phải là đa số quần chúng và họ cũng không thể tự động đi biểu tình. Đứng đàng sau lưng, phải có người đạo diễn. Những ngưòi này có thể vì lòng yêu nước chân thành hay cũng có thể có những lý do khác mà lòng yêu nước chỉ là tấm bình phong.

Liên can trong vụ này, CSVN là đảng cầm quyền phải chịu trách nhiệm với lịch sử VN về tội không bảo vệ được lãnh thổ. Trong tương lai xa hơn, VN có thể mất phần tài nguyên mà các vùng đó có thể đem tới. Nhưng trực tiếp bị thiệt thòi trước mắt chỉ là những ngư phủ đánh cá bằng tàu lớn. Xưa kia họ tự do ở vùng biển của mình, bây giờ ra đó đánh cá là bị bắt. Tỷ lệ của số ngư phủ này so với dân số cả nước là một tỷ lệ nhỏ nhoi.

Cho nên mặc dầu cái chánh nghĩa là có, nhưng cái thế nhân dân thì không. Các cuộc biểu tình này sẽ không kéo dài được lâu. Nhưng nó không phải là vô ích. Nó giúp cho quần chúng ý thức được ai là tội phạm phản quốc. Nó là những cuộc tập trận cần thiết. Nó giúp cho quần chúng có kinh nghiệm tổ chức, lòng tự tin và tính dứt khoát lúc thời cơ đã chính mùi. Chừng nào?

Khi nhà trường không có đủ chỗ cho con nít đi học, khi nhà thương bó tay, để người bệnh la liệt không còn thuốc thang để trị bịnh, khi người ăn xin và người thất nghiệp tràn lan ngoài phố, khi người dân đóng không nổi sưu cao thuế nặng nữa, khi bà con thân thuộc ở tù nhiều quá . . . thì người dân sẽ đi biểu tình. Nghẹt thở quá, không biểu tình thì chết, nổi dậy thì may ra có hy vọng. Nhưng lần này không cần trí thức giựt dây, lần này đọng chạm tới chén cơm và cuộc sống hằng ngày của người dân, lần này mới là sức mạnh của nhân dân. Lần này là lần thiệt.

Quân đội nhân dân, công an nhân dân, cảnh sát nhân dân sẽ được huy động để chống nhân dân. Nhưng không phải toàn bộ quân đội, công an, cảnh sát tham gia trực tiếp đàn áp. Chỉ một bộ phận tham gia và trong cơn say máu, họ sẽ thẳng tay.

Cuộc dằn co này có thể kéo dài lê thê hay ngắn gọn trong vài ngày. Nhưng phải có người đổ máu. Không nhiều thì cũng phải có ít, vì CS không dễ chịu thua liền, và máu là cái giá phải trả cho tự do.

Những bộ phận quân đội, công an. cảnh sát còn lại đứng ngoài nhìn, họ sẽ thấy bà con, anh em, cha mẹ trong đám biểu tình bị đánh, bị đập. Họ sẽ bắt đầu suy nghĩ. Khi họ suy nghĩ  xong thì chế độ tiêu liền.

Đó là những cái gì đã thật sự xảy ra ở Tunisie, Egypte, Yemen .v.v. Có ông Tổng thống bỏ của, chạy lấy mạng, có ông Tổng thống bị bắt ở lại chờ ngày ra tòa. Đừng nói chi đến những Tổng Bộ Trưởng khác.

Trước đây, CS đoạt được chánh quyền là 50% nhờ súng đạn của Liên Xô và Trung Cộng còn 50% là nhờ một kỹ thuật vận động quần chúng xuất sắc đã gạt được người dân. Ngày nay chính người dân mở mắt ra biết mình đã bị lợi dụng nên không thể nào gạt họ lần thứ hai. Người CS không còn xử dụng thế nhân dân được nữa. Thế nhân dân bây giờ đang chống lại họ.

Người CSVN đang ở trong thế kẹt.
 
THẾ MẠNH CỦA NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI
Người Việt hãi ngoại đã thành công lớn trong mọi lãnh vực. Từ công ăn việc làm của từng cá nhân đến việc học hành đổ đạt của con cái, từ đời sống vật chất sung túc đến cái khung cảnh an lạc thoải mái, không bị khuấy nhiểu của một chế độ tự do dân chủ, từ cái luật pháp công minh, đến cái châm sóc ân cần của hệ thống an sinh xã hội nhân bản, dầu cho họ có biết hay không, họ cũng đã thực sự ở 'thiên đường' trần gian rồi.

Với số lượng mấy triệu dân ở khắp năm châu, người Việt hãi ngoại là một tiềm năng vĩ đại có đủ khả năng đưa nước Việt Nam ra khỏi vũng lầy hiện nay. Do đó người Việt hãi ngoại đang ở thế thượng phong. Với điều kiện:

Người Việt hãi ngoại là một tập hợp nhiểu thành phần khác nhau, trong đó có những chủ tiệm phở, tiệm may. Trong đó cũng có nhũng kỷ sư, bác sĩ, mà trong đó cũng có người đi làm thuê, làm mướn. Trong đó cũng có những người thất nghiệp sống nhờ trợ cấp xã hội, mà trong đó cũng có những nhà tỷ phú dollars.

Người Việt hãi ngoại chỉ thành lực lượng khi họ hành động như một khối.

Câu này là chìa khóa của vần đề, Làm sao để cộng đồng người Việt Hãi ngoại hành động  thành một khối? Thành lập một Hội Đồng? Ứng cữ? Đề cữ? Bầu phiếu? Cái đó tôi không biết. Nhưng chắc chắn có nhiều người nghĩ ra nhiều cách rồi. Cái mà tôi biết là sự việc một Hội Đồng Chỉ Đạo Người Việt Hãi Ngoại QUÁ KHÓ THÀNH LẬP không phải chỉ vì người Việt không thể hợp tác với nhau được và CSVN tìm cách phá thối. Ngoài hai lý do trên ra, còn có một lý do quan trọng không kém đó là có những thế lực ngoại quốc cũng không muốn người Việt Hãi Ngoại mạnh lên và có những người da vàng nói tiếng Việt nhưng làm việc cho các thế lực đó. Tất cả những yếu tố bên trong và bên ngoài đó đã đưa cộng đồng Người Việt Hãi Ngoại đến tình trạng rắn không đầu ngày nay. Dầu có bị thọc gậy bánh xe bao nhiêu, việc không tập hợp được vẫn là trách nhiệm chánh của những người trí thức thật tâm yêu nước. Không có cái Hội Đồng này thì không có tiếng nói chung, nghĩa là không có lực lượng, nghĩa là không thể làm gì để giúp nước được.

36 nhà trí thức nhắc nhở VC dùng đến 'sức mạnh dân tộc'

Sức mạnh dân tộc là gì? Sức mạnh nhân dân là gì? Sức mạnh của quần chúng là gì? Sức mạnh của đồng bào là gì? Đương nhiên, khi lấy kiến hiển vi ra soi thì mỗi cụm từ có chút sai biệt, nhưng trong đại thể thì nó cũng chỉ nói đến sức mạnh của một số đông người. Chúng ta bàn luận nghiêm túc nên không để mấy chữ này làm bị rối trí nhe.

Trước đây có Giáo Sư Phó Bá Long, sau đó là đến Tướng Nguyễn Cao Kỳ, bây giờ lại đến 36 người tự nhận là trí thức tìm cách tiếp xúc với VC. Những người này đều đã bị lực lượng hãi ngoại chối bỏ thậm tệ. Giáo Sư Phó Bá Long và Tướng Nguyễn Cao Kỳ được hân hạnh bắt tay với vài người lãnh đạo CS rồi thôi. Nếu CS chơi thâm, chánh thức mời rềnh rang 36 nhà trí thức về VN uống trà và ngợi khen họ, thì họ sẽ hãnh diện lắm hay mới biết mình bị lợi dụng và bị chọc quê?

Thật ra, một vài tướng lãnh cũ của VNCH hay 36 nhà khoa bảng VN đối với CS không là cái gì cả. Những người trí thức này tự đánh giá mình quá cao. Họ tưởng CS sẽ xem trọng chữ nghĩa. Dầu cho có 360 người khoa bảng đi nữa, đối với CS, trí thức phải đầu hàng giai cấp, nói một cách khác, trí thức phải nghe lời đảng. Trí thức không có gì để bàn với đảng. Trí thức trong nước vì ở trong thế kẹt nên phải chịu thua để mà sống thì ai cũng hiểu được mà thương tâm. Nhưng trí thức đã ra hãi ngoại rồi mà chịu đầu hàng giai cấp thì làm sao hiểu đây?

Nhưng nếu những người trên đây được người Việt Hãi ngoại nhiệt liệt ủng hộ thì sao?

Chừng đó CS sẽ thay đổi thái độ. CS sẽ mừng lắm, vì họ đã bỏ tiền ra rất nhiều để làm cái công tác hãi-ngoại-vận này lâu rồi. Bây giờ đã có kết quả thì còn muốn gì hơn? Nhưng ở trong thí dụ đó, các nhà trí thức đừng tưởng bở, nếu CS chịu săn đón các ông chẳng qua là tại cái lực lượng phía sau lưng chớ không phải cái bằng cấp trước mặt. Nói một cách khác, bất cứ một chủ tiệm phở, thợ hớt tóc, ca sĩ trẻ, ký giã già nếu họ được người Việt hãi ngoại ủng hộ thì họ cũng sẽ được săn đón tương tự.

Cái tiếu lâm trong vụ này là các 'thiên kinh vạn quyển' không hiểu cái gì họ nói. Họ không biết tự mình tìm hậu thuẩn của người Việt Hãi Ngoại - đó cũng là một sức mạnh dân tộc - lại đi dạy VC là chuyên viên thượng thặng dùng sức mạnh dân tộc để cướp chánh quyền. Nhưng thời thế đã đổi thay, bây giờ sức mạnh dân tộc đã quây 180 độ rồi!
 
KHI HAI BÊN NÓI CHUYỆN VỚI NHAU
Cứ để tự nhiên, chế độ CS ở VN sẽ bị quần chúng đứng lên dẹp bỏ. Đó là điều chắc chắn. Nhưng trong quá trình dẹp bỏ đó, sẽ có rất nhiều tổn thất về vật chất và xương máu.

Để tránh tình trạng tồi tệ này
, bài toán Việt Nam chỉ có thể giải quyết tốt đẹp nhứt bằng cách hai bên nói chuyện với nhau.

Nhưng mỗi bên có những ý định khác nhau. VC muốn người Việt Hãi Ngoại xóa bỏ hận thù. Còn người Việt Hãi Ngoại thì muốn xóa bỏ chế độ CS.

Mục tiêu của hòa đàm là giải quyết cái chánh trị bế tắc hiện nay. Do đó, nó không phải là tìm cách cải tiến để củng cố chế độ CS hiện nay (chế độ này hết thuốc chữa rồi) mà nó cũng không phải là dẹp bỏ đảng CS vì đó là trái với tinh thần tự do dân chủ. Mục tiêu thực tế là thỏa thuận những bước cần thiết để chuyển giao độc quyền cai trị của đảng CS lại cho nhân dân. Cái ưu việt của chế độ dân chủ không phải ở chỗ nó tự nhiên chọn được những người cai trị hoàn hảo, mà nó nằm ở chỗ người dân nếu rủi ro chọn lầm người thì chỉ phải ráng chịu đựng có một nhiệm kỳ (3 hay 5 năm) chớ không phải 36 năm hay hơn nữa như bây giờ.
 
PHÁI ĐOÀN CS
CSVN ở trong một thế phải chọn lựa khó khăn.

Người CS yêu nước muốn tìm cách giải quyết quốc nạn bằng cách thảo luận với mọi thành phần chống đối trước hết phải thắng được sự ù lỳ của các đồng chí bảo thủ. Những người này đang hưởng lợi lộc mà quyền hành đã ban cho, họ sung sướng quá rồi nên không muốn có thay đổi.

Và sau đó là phải qua mặt Trung Cộng. Đa số thành phần đang cai trị VN đã bị Trung Cộng khống chế rồi. Mà Trung Cộng đâu bao giờ muốn một nước VN hùng mạnh. Cho nên dầu cho biết rằng vì quyền lợi của Tổ Quốc, CSVN phải nhờ người Việt Hãi Ngoại tiếp tay để tăng nội lực, họ cũng không dám làm vì đừng nói đến quyền hành và tài sản họ đang có, ngay cả tính mạng của họ cũng không được an toàn.

Cho nên vì quyền lợi của quốc gia, ai cũng thấy phải có thương thuyết càng sớm càng tốt. Nhưng xác suất của triển vọng này rất ít.

Phải biết chờ đợi. CSVN sẽ bị bắt buộc phải thương thuyết chỉ khi nào họ không còn cách nào cựa quậy nữa. Cho nên phải chờ đến khi nào CSVN thật sự bí lối. Họ phải bị nằm trong một thế 'hoặc thay đổi hoặc chết'. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Quan tài thì sẽ thấy. Hoặc thấy trước thì còn vớt vát chút đỉnh. Thấy quá trễ thì sẽ sạch túi. Chuyện này chỉ có thể xấp xếp giữa người CS với nhau mà thôi.
 
PHÁI ĐOÀN HÃI NGOẠI
Người Việt hãi ngoại đi thương thuyết với CS ở trong thế mạnh chỉ khi nào họ có đa số người Việt hãi ngoại ủng hộ. Và nếu họ thật sự yêu nước và muốn làm việc có kết quả thì họ phải nhận nhiệm vụ từ tập đoàn người Việt hãi ngoại. Người CS chỉ nhượng bộ trước áp lực của nhân dân. Chỉ có người đại diện thật sự của tập đoàn người Việt Hãi Ngoại mới có thể đặt kiều kiện với CS. 'Chịu điều kiện thì giúp, không chịu thì thôi. Tôi đi về!'

Trong lúc CSVN chưa có dấu hiệu gì thay đổi chánh sách thì vì quyền lợi Tối Thượng của Tổ Quốc, người Việt Hãi Ngoại phải tự mình chuẩn bị sẳn sàng đi, những người Việt Hãi Ngoại nhứt là những người có danh vọng phải hiểu rằng xé lẻ vọng động là làm trở ngại sự tiến triển của ván cờ-/-
 

Hồ Tấn Vinh
4/10/2011

Phát Biểu Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Về Vấn Đề Tái Sinh Của Ngài

Phát Biểu Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Về Vấn Đề Tái Sinh Của Ngài

Giới Thiệu
 
Những người dân Tây Tạng thân mến của tôi, ở cả trong lẫn ngoài đất nước Tây Tạng, cùng tất cả những ai đang tu tập theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và những ai đang có những nối kết với Tây Tạng và người Tây Tạng:  do bởi sự nhìn xa thấy rộng của những vị quân vương thời cổ, cùng các vị thừa tướng và các vị học giả cao thâm mà toàn bộ giáo lý của đức Phật, gồm có những giáo lý kinh điển, kinh nghiệm tu tập của cả Ba Thừa và Bốn Cấp Độ Mật Điển, cùng với những đề tài và các môn học liên hệ khác, đã được thăng hoa, phát triển một cách rộng rãi trên Xứ Tuyết. Đối với cả thế giới, Tây Tạng đã trở thành suối nguồn của truyền thống Phật giáo cũng như của các truyền thống văn hoá liên quan đến Phật giáo.  Đặc biệt, Tây Tạng đã cống hiến một cách đáng kể cho hạnh phúc của vô lượng  người dân đang sống tại châu Á, kể cả những ai đang ở tại Trung Hoa, Tây Tạng và Mông Cổ.
 
Đức Đạt Lai Lạt Ma.
 
Trong một chuỗi dài của việc duy trì truyền thống Phật giáo tại Tây Tạng, chúng tôi đã nuôi dưỡng một truyền thống Tây Tạng đặc thù, [đó  là]  công nhận sự tái sanh của các vị học giả cao thâm, là những người đã đóng góp một cách to lớn cho Giáo pháp và  cho chúng sinh, đặc biệt hơn nữa là cho cộng đồng tu sĩ.
 
Kể từ khi đấng toàn giác Gedun Gyatso đã được nhận diện và tuyên nhận là hoá thân của ngài Gedun Drub vào thế kỷ thứ mười lăm, và từ khi Gaden Phodran Labrang tức là hệ thống tái sinh của đức Đạt Lai Lạt Ma được thiết lập, thì những vị hoá thân kế tiếp [của đức Đạt Lai Lạt Ma] cũng đã được tuyên nhận. Vị hoá thân thứ Ba trong truyền thống ấy, ngài Sonam Gyatso, đã được ban cho pháp hiệu Đạt Lai Lạt Ma.  Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Năm, ngài Ngawang Lobsang Gyatso, đã thành lập Chính Quyền Gaden Phodrang vào năm 1642, trở thành vị lãnh đạo tâm linh lẫn chính trị của Tây Tạng.  Đã trải qua hơn 600 năm từ ngài Gedun Drub trở đi cho đến nay, một chuỗi dài bao gồm các vị hoá thân thuộc dòng truyền thừa của Đạt Lai Lạt Ma đã được công nhận một cách hoàn toàn đúng đắn, không hề sai trật.
 
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá  khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay.  Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diện và hài lòng là giờ đây chúng tôi có thể noi theo một hệ thống chính quyền dân chủ là một hệ thống đang nở rộ ở khắp nơi trên thế giới. Thật ra, ngay từ  năm 1969 xa xưa trở đi, tôi cũng đã từng nói một cách hết sức minh bạch rằng những ai có mối liên hệ [với đức Đạt Lai Lạt Ma và Tây Tạng], họ cần phải quyết định xem là các vị tái sanh của Đạt Lai Lạt Ma có nên tiếp tục trong tương lai hay không. Tuy thế, trong khi thiếu vắng những  tôn chỉ rõ ràng, giả sử nếu cộng đồng những người liên hệ bày tỏ một ước nguyện mạnh mẽ mong muốn các vị tái sanh của Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục hiện hữu, thì có thể  có một nguy cơ rõ rệt là sẽ có những thế lực chính trị có chủ ý sẽ lợi dụng hệ thống tuyên nhận hoá thân này để hoàn thành những chương trình [tham vọng] chính trị riêng tư.  Do đó, trong khi tôi vẫn còn đầy đủ sức khoẻ và tinh thần minh mẫn, tôi nghĩ rằng  có lẽ điều quan trọng đối với tôi là chúng ta cần phải thiết lập những tôn chỉ rõ ràng để tuyên nhận vị Đạt Lai Lạt Ma kế nhiệm, không để bất kỳ khe hở nào cho sự hoài nghi hay gian trá. Để có thể hiểu được những tôn chỉ này một cách trọn vẹn, điều thiết yếu là phải thấu hiểu về hệ thống tuyên nhận Tulku (hoá thân) và về  những khái niệm căn bản đằng sau hệ thống ấy.  Bởi thế cho nên, tôi sẽ vắn tắt giải thích như sau.
 
Kiếp quá khứ và kiếp tương lai (kiếp trước kiếp sau)
 
Để có thể chấp nhận được thuyết tái sanh hay về thực tại của các  vị Tulku (tức các vị hóa thân), chúng ta cần phải chấp nhận sự hiện hữu của đời trước và đời sau, của các kiếp quá khứ và kiếp vị lai. Chúng sinh hiện hữu trong cuộc đời hiện tại khởi đi từ những đời kiếp trước và chúng sinh đầu thai trở lại sau khi chết.  Sự đầu thai trở lại một cách liên tục này được công  nhận bởi tất cả các truyền thống tâm linh Ấn Độ cổ cũng như được công nhận bởi tất cả các trường phái triết học, ngoại trừ phái Charvakas [cũng thuộc Ấn Độ cổ], là một phong trào duy vật. Có một số các triết gia hiện đại chối bỏ kiếp trước kiếp sau dựa trên tiền đề cho là chúng ta không thể nhìn thấy được điều đó.  Có những người khác thì lại không vẽ ra những kết luận quá rõ rệt dựa trên cơ sở này [của việc không "nhìn thấy" được là có kiếp trước kiếp sau].
 
Cho dù có rất nhiều truyền thống tôn giáo công nhận việc đầu thai  trở lại thì các truyền thống này lại có những cái nhìn khác nhau, chẳng hạn như là các quan điểm khác nhau về cái gì là cái đầu thai trở lại, đầu thai trở lại như thế nào, và sự việc xảy ra như thế nào khi đi qua giai đoạn chuyển tiếp giữa hai kiếp sống. Có một số truyền thống tôn giáo chấp nhận viễn ảnh của kiếp tương lai, nhưng lại chối bỏ khái niệm về những đời quá khứ.
 
Nói chung, người Phật tử tin tưởng rằng không có khởi đầu của sự chào đời và họ tin rằng một khi chúng ta đạt được giải thoát khỏi vòng xoay luân hồi, bằng cách khắc phục được nghiệp báo và các tâm thức tiêu cực, thì chúng ta sẽ không phải bị đầu thai trở lại dưới sự lôi kéo của những điều kiện nghiệp duyên đó nữa. Do đó, người Phật tử tin rằng có thể chấm dứt việc đầu thai như là kết quả của nghiệp báo và các tâm thức tiêu cực, nhưng đa số các trường phái triết học Phật giáo đều không chấp nhận rằng có sự chấm dứt của dòng tâm thức.  Việc chối bỏ quá khứ và chối bỏ sự đầu thai trong tương lai sẽ tương phản với các khái niệm Phật giáo liên quan đến [các giáo lý thuộc về] nền tảng, đạo và quả, và những điều này cần phải được giải thích dựa trên một cái tâm thuần thục [được chế ngự] hoặc một cái tâm bất thuần thục [không được chế ngự].
 
Đối với những ai có thể nhớ lại được tiền kiếp thì việc đầu thai trở lại là một kinh nghiệm rất rõ ràng. Tuy nhiên, đa số những người tầm thường đều quên đi tiền kiếp của họ khi họ phải trải qua quá trình của cái chết, của giai đoạn giao chuyển (thân trung ấm) và của việc đầu thai.  Đối với những người này thì  đời quá khứ và đời tương lai có chút mù mờ, nên chúng ta phải dùng luận lý dựa trên chứng cớ rõ rệt để chứng minh cho họ về kiếp trước kiếp sau.|
 
Có rất nhiều những lý giải tranh luận khác nhau được đưa ra dựa trên lời Phật dạy, cũng như dựa trên những luận giải tiếp nối sau ngài, để chứng minh về sự hiện hữu của kiếp trước kiếp sau.  Một cách vắn tắt, những lý giải ấy đưa đến 4 điểm như sau: lý luận cho rằng mọi vật được sinh ra bởi một vật tương tự như nó trước đó, lý luận cho rằng mọi vật được sinh ra bởi một nguyên nhân nguồn gốc chắc thực trước đó, lý luận cho rằng tâm thức đã làm quen [huân tập] với những gì trong quá khứ, và lý luận cho rằng những gì trải qua trong quá khứ là những kinh nghiệm đạt được.
 
Một cách rốt ráo, tất cả những lý giải tranh luận trên đây đều dựa trên khái niệm cho rằng bản tánh của tâm, cùng tánh thông suốt và tánh tỉnh giác [của tâm ấy], bắt buộc phải dựa trên sự sáng tỏ thông suốt và sự tỉnh giác như là các nguyên nhân chắc thực. Không thể nào có một  thực thể nào khác, chẳng hạn như là một vật thể vô tri vô giác nào đó, [lại có thể trở thành] nguyên nhân nguồn gốc chắc thực [đưa đến sự hiện hữu] của bản tâm. Điều này tự nó có thể chứng minh được.  Qua sự phân tích dựa trên luận lý, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng một dòng chảy mới mẻ của sự thông suốt và sự tỉnh giác [của bản tâm] sẽ không thể nào hiện hữu nếu không có được những nguyên nhân chắc thực, hoặc không thể nào hiện hữu với những nguyên nhân không liên can. Trong khi chúng ta quan sát để thấy được rằng tâm thức không thể nào được sản xuất ra từ một viện bào chế, thì chúng ta cũng có thể đi đến kết luận rằng chẳng gì có thể diệt trừ được sự tương tục của tánh thông suốt và tánh tỉnh giác vi tế [của bản tâm].
 
Theo cái hiểu biết trước giờ của tôi, không có một nhà tâm lý học, vật lý học hay thần kinh học hiện đại nào lại có thể quan sát và  đoán trước rằng tâm là sản phẩm đến từ một chất đặc nào đó, hoặc tâm là một sản phẩm không đến từ một nguyên nhân nguồn gốc nào cả.
 
Có những người có thể nhớ lại được ngay cái kiếp mà họ vừa trải qua, kể cả nhiều đời kiếp trước nữa, và cũng có những người có thể nhận biết ra được những nơi chốn và bà con họ hàng từ những đời kiếp đó. Đây không phải là việc chỉ xảy ra trong quá khứ. Ngay cả ngày nay cũng có rất nhiều người ở phương Đông và phương Tây có thể nhớ lại được những tình huống và kinh nghiệm từ những đời quá khứ.  Nếu chối bỏ điều này trong khi làm khảo cứu thì đó không phải là một cách thức trung thực và sẽ phiến diện vô cùng, bởi vì điều ấy đi ngược lại với bằng chứng ở trên.  Hệ thống Tây Tạng chứng nhận các vị hoá thân là một phương thức điều tra nghiên cứu trung thực dựa trên sự hồi nhớ về  những đời kiếp trước của các cá nhân ấy.
 
Đầu thai như thế nào
 
Có thể có hai cách thức mà một người nào đó có thể đầu thai trở lại sau khi lìa đời:  đầu thai trở lại do sự lôi kép của nghiệp và các tâm thức tiêu cực nguy hại, và đầu thai trở lại nương vào sức mạnh của lòng từ bi và sự cầu nguyện. Đối với lại cách thứ nhất, bởi vì do vô minh mà các nghiệp lành và nghiệp ác được tạo ra và những dấu ấn của các nghiệp này tồn đọng lại trong tâm thức. Những dấu ấn ấy được kích hoạt trở lại qua sự tham luyến và bám chấp, đưa dẫn chúng ta đầu thai trở lại trong kiếp kế tới. Sau đó, chúng ta không tự nguyện mà vẫn cứ bị đầu thai trở lại trong các cõi cao hơn hoặc thấp hơn. Đây là cái cách mà các chúng sinh bình thường cứ liên tục, không dứt đoạn, quày tới quày lui trong vòng hiện hữu của luân hồi, y hệt như là một bánh xe quay. Nhưng ngay cả trong những hoàn cảnh như thế thì chúng sinh tầm thường với một tâm nguyện tốt lành cũng có thể nỗ lực tinh tấn tham gia vào các thiện hạnh trong đời sống hằng ngày. Họ huân tập bản thân trong các thiện hạnh để khi chết đi thì [những dấu ấn của] các thiện hạnh này lại được kích hoạt trở lại, trở thành những phương tiện giúp họ tái sinh vào những cõi cao hơn.  Ngược lại, những vị Bồ tát tối thắng, là những người đã đạt đến con đường của cái thấy (kiến đạo), các vị ấy không đầu thai trở lại do bởi nghiệp lực hay các xúc cảm ô trược nguy hại lôi kéo, mà do bởi sức mạnh của lòng từ bi của các ngài dành cho chúng sinh và dựa trên những lời cầu nguyện muốn đem lại lợi lạc cho kẻ khác. Các vị ấy có thể lựa chọn nơi chốn và ngày giờ chào đời, cũng như lựa chọn cha mẹ tương lai. Một sự đầu thai như thế, duy nhất bởi vì lợi lạc cho các chúng sinh khác, chính là sự đầu thai xuyên qua sức mạnh của lòng từ bi và sự cầu nguyện.
 
Ý nghĩa của Tulku (hoá thân)
 
Có vẻ như là phong tục  Tây Tạng về việc sử dụng danh hiệu 'Tulku' (Thị Hiện Thân của Phật) dành cho những vị hoá thân đã khởi sự bắt đầu từ khi những người mộ đạo sử dụng từ Tulku đó như là một tước hiệu danh dự.  Nhưng mà từ đó trở đi thì cách gọi này trở thành là một biểu lộ thông thường. Nói chung, từ Tulku ám chỉ một khía cạnh đặc biệt của đức Phật, là một trong ba hay bốn khiá cạnh [phẩm tánh] đã được mô tả trong Kinh thừa.  Dựa trên những giải thích về các phẩm tánh này của đức Phật, một người hoàn toàn thoát khỏi, không bị trói buộc bởi những tâm thức ô nhiễm nguy hại và không bị trói buộc bởi nghiệp, người ấy có khả năng đạt được Pháp Thân (Chân Thân) (Truth Body - Dharmakaya), và Pháp Thân ấy bao gồm Trí Pháp Thân (Wisdom Truth Body) và Thể Tánh Pháp Thân (Nature Truth Body). Trí Pháp Thân chỉ đến tâm giác ngộ của một vị Phật; tâm ấy, trong một khoảnh khắc có thể nhìn thấy trực tiếp mọi thứ, một cách đích xác như chúng thật là. Tâm ấy hoàn toàn tịnh hoá khỏi các xúc cảm nguy hại, kể cả hoàn toàn tịnh hoá khỏi các dấu ấn của các tâm thức tiêu cực ấy, xuyên qua việc tích lũy công đức và trí tuệ qua một thời gian dài.  Sau đó, đến Thể Tánh Pháp Thân, là đang chỉ đến tánh không của chính tâm toàn tri toàn giác ấy. Đây là hai đặc tánh của chư Phật dành cho chính các ngài. Nhưng mà bởi vì các phẩm tánh ấy không thể được trực tiếp tiếp cận bởi những người khác, chỉ có thể xuyên suốt được giữa các vị Phật với nhau, cho nên bắt buộc chư Phật phải hoá hiện trong hình tướng phàm để chúng sinh có thể tiếp cận và như vậy thì mới có thể giúp đỡ được chúng sinh.  Vì vậy, khiá cạnh sắc tướng cao nhất của một vị Phật chính là Thọ Dụng Thân (Báo Thân hay Báu Thân) (Body of Complete Enjoymeng – Sambhogakaya), có thể được tiếp cận bởi chư Bồ Tát cao tột, và Thọ Dụng Thân thì có năm phẩm tánh, mà một trong năm phẩm tánh đó là an trú  tại cung trời Sắc Cứu Cánh Thiên (Akanishta). Rồi từ  Thọ Dụng Thân ấy lại hoá hiện ra vô lượng vô số Thị Hiện Thân của chư Phật (Hiện Thân) hoặc Tulku (Nirmanakaya – Hoá Thân).  Các vị hiện ra như là chư Thiên hoặc loài người và có thể được tiếp cận bởi các chúng sinh bình thường. Hai đặc tánh mang hình tướng này của Phật được gọi là Sắc
 
Thân (Form Bodies), có nghĩa là với dành cho những kẻ khác.
 
Thị Hiện Thân (Emanation Body) gồm có ba phân loại: a) Hiện Thân Tối Thượng (Supreme Emanation Body) giống như là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là đức Phật lịch sử, đã hoá hiện mười hai công hạnh của một vị Phật, chẳng hạn như là đảnh sanh vào nơi chốn mà ngài đã lựa chọn, vân vân; b) Hiện Thân Mỹ Thuật (Artistic Emanation Body) để phụng sự người khác bằng cách thị hiện như là những nghệ nhân, nghệ sĩ, vân vân; c). Hoá Hiện Thân (Hoá Thân) (Incarnate Emanation Body) mà qua đó chư Phật hiện ra trong vô số hình tướng khác nhau như là con người, Hộ Phật, con sông, chiếc cầu, dược thảo và cây cối để giúp đỡ chúng sinh.  Trong số ba loại Thị Hiện Thân này, sự tái sanh của các vị đạo sư tâm linh  được công nhận và biết đến như là các vị Tulku tại Tây Tạng nằm trong loại Thị Hiện Thân thứ ba. Trong số các vị Tulku này, có thể có nhiều vị là những Hoá Thân đầy đủ phẩm tánh thực sự của chư Phật, nhưng điều này cũng không nhất thiết là áp dụng được cho tất cả các vị Tulku.  Trong số các vị Tulku của Tây Tạng, có nhiều vị là tái sanh của các vị đại Bồ Tát tối cao, của các vị Bồ Tát trên con đường tích lũy (tư lương đạo) và con đường chuẩn bị (gia hạnh đạo), cũng như là tái sanh của những vị đạo sư, là những vị tuy qua minh chứng chưa thực sự bước vào đến  con đường tư lương đạo và gia hạnh đạo ấy của chư Bồ Tát. Do đó, danh hiệu Tulku được dành cho các vị Lama tái sanh được đặt trên cơ sở  rằng các ngài [không khác nào] giống như là các vị giác ngộ, hoặc do bởi các ngài có sự kết nối với một số các phẩm hạnh nào đó của chư vị giác ngộ.

Như đức Jamyang Khyentse Wangpo đã có nói:
"Tái sanh là chuyện xảy ra khi một người nào đó đầu thai trở lại sau khi vị tiền nhiệm qua đời; hiện thân là khi một sự hoá hiện xảy đến mà không cần có sự qua đời của vị  [hoá thân] gốc."
 
Tuyên nhận các hoá thân
 
Viện tuyên nhận ai là ai qua, việc nhận diện đời trước của một người nào đó, việc ấy xảy ra ngay cả khi chính đức Phật Thích Ca còn tại thế. Có rất nhiều câu chuyện đã được tìm thấy trong Phẩm thứ tư - Agama (Ngũ Bộ Kinh) của Luật Tạng, trong Truyện Tiền Thân Phật, trong Kinh Hiền Ngu, Kinh Bách Nghiệp và vân vân. Trong đó, Như Lai đã khai mở về luật vận hành của  nhân quả, kể lại vô lượng vô số câu chuyện về những ảnh hưởng nghiệp báo của đời trước được một người nào đó trải  nghiệm trong đời này ra sao.  Thêm vào đó, trong chuyện cuộc đời của những vị đạo sư Ấn Độ là những người đã sống sau thời đại đức Phật, cũng khai mở cho ta thấy về những nơi chốn chào đời trong những kiếp quá khứ của các vị ấy. Có rất nhiều những câu chuyện như thế, nhưng hệ thống công nhận và thứ tự hoá các vị tái sanh đã không xảy ra tại xứ Ấn.
 
Những hệ thống tuyên nhận các vị tái sanh tại Tây Tạng
 
Trước khi đạo Phật  đến Tây Tạng thì kiếp trước kiếp sau cũng đã được công nhận trong truyền thống bản xứ thuộc đạo Bon của Tây Tạng.  Và từ khi Phật giáo được truyền bá tại Tây Tạng thì gần như tất cả mọi người dân Tây Tạng đều tin vào kiếp trước kiếp sau.   Việc đi điều tra, tìm kiếm tái sanh của rất nhiều vị đạo sư tâm linh, là những người duy trì Phật pháp, cũng như phong tục cầu nguyện các vị ấy một cách vô cùng thành tín,  tất cả đã trở thành những điều được thực hành rộng rãi ở khắp nơi trên xứ Tây Tạng.  Có rất nhiều những kinh văn chính thống, các văn liệu bản xứ  của Tây Tạng, chẳng hạn như Mani Kabum hoặc Giáo Lý Năm Nhánh Kathang cùng những tài liệu tương tự như Tập Luận của Các Đệ Tử Kadam hoặc Chuỗi Châu Bảo: Giải Đáp Các Thắc Mắc, là những tài liệu được kể lại bởi vị đạo sư Ấn Độ vô song, ngài Dipankara Atisha của thế kỷ thứ mười một tại Tây Tạng, trong đó có kể lại về những câu chuyện của các tái sanh của Thánh giả Quán Thế Âm, Bồ Tát của Đại Từ Bi. Tuy thế, truyền thống chính thức tuyên nhận các vị tái sanh của các đạo sư như truyền thống tái sanh ngày nay đã khởi sự bắt đầu vào đầu thế kỷ thứ mười ba qua sự việc ngài Karmapa Pagshi đã được chính các đệ tử của ngài tuyên nhận ngài là tái sinh của [vị tiền nhiệm] Karmapa Dusum Khyenpa, dựa trên chính những chỉ dẫn được để lại cho đệ tử bởi vị tiền nhiệm ấy. Từ đó trở đi, đã có mười bảy hoá thân Karmapa trong hơn chín trăm năm nay. Cũng giống như thế, bắt đầu từ việc tuyên nhận ngài Kunga Sangmo là tái sanh của ngài Khandro Choekyi Dronme của thế kỷ thứ mười lăm cho đến nay thì đã có mười vị tái sanh của Samding Dorje Phagmo.  Cho nên, trong số các Tulku được tuyên nhận tại Tây Tạng, có những vị là tu sĩ và những vị là  hành giả Mật thừa, cả nam lẫn nữ.  Hệ thống tuyên nhận các vị tái sanh dần dần lan truyền đến các truyền thống Phật Giáo Tây Tạng khác, kể cả đạo Bon, ở Tây Tạng. Ngày nay, có những vị Tulku được tuyên nhận trong khắp bốn truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, Sakya, Geluk, Kagyu và Nyingma, cùng với Jonang và Bodong, là những vị hiến mình cho Giáo pháp. Nhưng cũng có những trường hợp cho thấy là trong số các vị Tulku ấy, có những vị đáng phải hổ thẹn.
 
Đấng toàn giác Gedun Drub, một đệ tử tâm truyền của ngài Je Tsongkhapa, đã khai lập tu viện Tashi Lhunpo tại vùng Tsang và đã chăm lo cho các đệ tử của ngài. Đại sư Gedun Drub thị tịch vào năm 1474 vào tuổi 84. Cho dù lúc đầu, chẳng có nỗ lực nào để nhận diện lại tái sanh của ngài, nhưng cuối cùng người ta bị buộc phải tuyên nhận đứa trẻ tên Sangye Chophel, ra đời vào năm 1476 tại Tanak ở vùng Tsang, bởi vì những gì đứa trẻ đó nói ra cho thấy nó có một trí nhớ cực kỳ tuyệt vời và không chút gì sai trật về cuộc đời trong quá khứ. Từ đó trở đi, một truyền thống tái sanh đã khởi sự bắt đầu, chuyên đi tìm kiếm và tuyên nhận lại những vị tái sanh kế tiếp của các vị Đạt Lai Lạt Ma do Gaden Phodran Labrang, và sau đó, do Chính Quyền Gaden Phodran, điều hành.
 
Cách thức tuyên nhận các vị tái sanh
 
Sau khi hệ thống tuyên nhận các vị Tulku bắt đầu hiện diện [tại Tây Tạng], có nhiều cách thức khác nhau đã được khởi sự và phát triển.  Trong số những phương cách khác nhau này thì phương cách quan trọng nhất liên quan đến lá thư tiên đóan của vị tiền nhiệm cùng với những hướng dẫn và những dấu hiệu khác nhau có thể xảy đến; hoặc qua cách vị tái sanh nhớ lại và kể lại một cách đáng tin cậy về chuyện đời trước; hoặc qua cách vị ấy nhận diện ra được những vật dụng thuộc về vị tiền nhiệm hoặc nhận diện ra được những người thân cận trong đời trước.  Ngoài những phương thức ấy ra, còn có thêm những phương thức bổ túc khác, chẳng hạn như là thỉnh xin các tiên đoán của những  vị đạo sư tâm linh đáng tin cẩn, cũng như hỏi xin tiên đóan của những vị  thầy tiên tri thế tục (oracle) trong khi các vị này đang ở trong  trạng thái xuất thần, hoặc quan sát các linh ảnh hiện tra trong những hồ nước thiêng của những vị hộ pháp như là Hồ Lhamoi Latso, là hồ nước linh thiêng ở về phiá nam Lhasa.

Khi xảy ra sự việc có nhiều hơn là một người ứng tuyển tương lai có thể  được tuyên nhận là một vị Tulku, và quyết định lựa chọn tối hậu trở thành việc quá khó khăn, thì có một phương pháp tiên đoán nữa được đem ra sử dụng, đó là việc dùng những viên bột (zen tak) ngay trước một linh ảnh trong khi khẩn thiết thỉnh nguyện năng lực của chân lý nhiệm mầu.
 
Hiện thân trước khi vị tiền nhiệm qua đời (ma-dhey tulku)
 
Thông thường, một vị tái sanh phải là một người đầu thai trở lại làm một con người khác, sau khi vị tiền nhiệm qua đời.  Thông thường, các chúng sinh bình thường không thể hoá thành ra một hiện thân khác trước khi  họ chết (ma-dhey tulku), nhưng chư vị đại Bồ Tát tối cao, là những người có thể đồng lúc hoá hiện trong trăm ngàn hình tướng khác nhau, các vị ấy có thể hoá hiện ra một hiện thân ngay cả trước khi các vị ấy lìa đời. Trong truyền thống tuyên nhận Tulku của Tây Tạng, có những hiện thân thuộc vào cùng một dòng tâm thức với vị tiền nhiệm, có những hiện thân có sự liên hệ với nhau qua năng lực của nghiệp duyên và sự cầu nguyện, và có những hiện thân đã hoá hiện như là kết quả của sự gia trì và phó thác.
 
Mục đích chính yếu của sự hoá hiện của một vị tái sanh là để tiếp tục công việc chưa hoàn tất của vị tiền nhiệm để hộ trì Giáo pháp và [hoá  độ]  chúng sinh.  Trong trường hợp của một vị Lama như một người bình thường, thay vì có một vị tái sanh thuộc vào cùng trong một dòng tâm thức, thì một người nào đó với những liên hệ kết nối [tâm linh] với vị Lama ấy, xuyên qua phước duyên thanh tịnh và [năng lực] cầu nguyện, thì người đó cũng có thể được công nhận là hiện thân của vị Lama. Một cách khác hơn nữa, cũng có thể là vị Lama sẽ bổ nhiệm một người kế thừa, và người kế thừa, có thể là một đệ tử hoặc một người nào đó trẻ tuổi hơn, sẽ được tuyên nhận là hiện thân của vị Lama kia.  Bởi vì những sự lựa chọn như vậy cũng có thể xảy ra trong trường hợp của một chúng sinh bình thường, nên trường hợp có một vị hiện thân  không thuộc vào cùng một dòng tâm thức cũng có thể xảy ra trước khi [vị tiền nhiệm] lìa đời. Trong một số trường hợp, một vị đại cao tăng Lama cũng có thể có một vài tái sanh khác nhau đồng một lúc, chẳng hạn như hiện thân của thân, hiện thân của khẩu và hiện thân của ý, vân vân.  Trong thời hiện đại, có những trường hợp nhiều người biết đến, ấy là có những vị hiện thân đã hóa hiện trước khi [vị tiền nhiệm] lìa đời, chẳng hạn như là trong trường hợp của ngài Dudjon Jigdral Yeshe Dorje và ngài Chogye Trichen Ngawang Khyenrab.
 
Sử dụng chiếc Lư Vàng
 
Bởi vì thời mạt pháp này ngày càng tệ mạt, và bởi vì các tái sanh của những vị Lama cao trọng được tuyên nhận ngày càng nhiều, lại có một số vị được tuyên nhận bởi các động lực chính trị, nên con số những vị tái sanh được công nhận qua các phương pháp không đúng đắn và đáng hồ nghi ngày càng cao, và kết quả của sự việc này là gây ra một tai hại hết sức to lớn cho Đạo pháp.
 
Trong giai đoạn xung đột giữa Tây Tạng và Gurkha (1791-93), chính phủ Tây Tạng đã phải cầu cứu sự hỗ trợ của quân đội Mãn châu (Manchu). Kết cuộc là quân đội Gurkha đã bị đánh đuổi khỏi lãnh thổ Tây Tạng, và sau đó, chính quyền Mãn châu đã soạn ra một bản kiến nghị 29 điểm dựa trên cái cớ là giúp cho cơ quan điều hành của Chính Phủ Tây Tạng thêm phần hiệu quả. Kiến nghị này gồm có những đề nghị về việc có thể bắt thăm từ một chiếc Lư Vàng [chiếc bình làm bằng vàng] để quyết định về việc công nhận tái sanh của các vị Đạt Lai Lạt Ma, của các vị Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama) cũng như của các vị Hutuktu - một tước hiệu Mông Cổ dành cho những vị Lama cao trọng.  Do đó, phương thức bắt thăm này đã được noi theo trong một vài trường hợp tuyên nhận hóa thân của Đạt Lai Lạt ma, Ban Thiền Lạt Ma hoặc một vài vị Lama cao trọng khác.  Nghi thức cần phải noi theo đã được viết xuống bởi đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Tám, ngài Jamphel Gyatso.  Cho dù sau khi một hệ thống như vậy đã được giới thiệu trước đây, nhưng trong trường hợp của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Chín, thứ Mười Ba và trong trường hợp bản thân tôi, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Bốn, thì phương thức bắt thăm từ chiếc Lư Vàng đã được bãi bỏ.
 
Ngay cả trong trường hợp của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười, vị hoá thân đích thực đã được tìm thấy và trên thực tế thì cái phương thức trên không hề được tuân theo, nhưng để làm vui lòng người Mãn châu, đã có một công bố ra đời, đơn giản báo cho họ biết rằng nghi thức đó đã được sử dụng.
 
Hệ thống chiếc Lư Vàng thật ra chỉ được sử dụng trong hai trường hợp duy nhất là Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Một và đời thứ Mười Hai.  Tuy nhiên, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Hai đã được tuyên nhận trước khi cái phương thức chiếc Lư Vàng được áp dụng.  Và vì vậy cho nên, chỉ có duy nhất một trường hợp Đạt Lai Lạt Ma được lựa chọn dựa vào chiếc Lư Vàng. Cũng như thế, trong số các hoá thân của Ban Thiền Lạt Ma, ngoại trừ đời thứ Tám và đời thứ Chín, không có một trường hợp  nào khác mà phương cách này được sử dụng.   Hệ thống bắt thăm này đã được áp đặt bởi chính quyền Mãn châu, nhưng người Tây Tạng không có chút niềm tin nào vào điều này bởi vì việc này thật sự chẳng mang một tính cách tâm linh nào cả. Dù là như thế, nếu phương cách này được sử dụng một cách chân thành, thì cũng chúng ta cũng có thể xem đó tương tự giống như cách thức tiên đoán dựa trên việc sử dụng các viên bột (zen tak).
 
Vào năm 1880, trong thời điểm tuyên nhận Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Ba là hoá thân của đời thứ Mười Hai, ta thấy vẫn còn hiện hữu những dấu vết của sự liên hệ Đạo Sư và Bảo Hộ giữa Tây Tạng và Mãn châu. Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Ba đã được tuyên nhận là vị hoá thân đích thực không hề sai trật từ đức Ban Thiền Lạt Ma đời thứ Tám, từ những tiên đóan của các vị thầy tiên tri (oracle) thuộc [hai tu viện] Nechung và Samye, cùng với việc quan sát những linh ảnh hiện ra trong Hồ Lhamoi Latso, và do đó, nghi thức chiếc Lư Vàng đã không được noi theo.  Ta có thể hiểu về điều này rất rõ ràng xuyên lá chúc thư cuối cùng của đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Ba, viết vào năm Con Khỉ Nước (1933), trong đó ngài có nói rằng:
"Như tất cả các ông đã biết, tôi đã được lựa chọn, không từ cái tập quán lựa chọn bắt thăm từ chiếc Lư Vàng, mà tôi đã được lựa chọn dựa trên những lời tiên tri và tiên đoán.  Theo đúng như những lời tiên tri và tiên đoán mà tôi đã được tuyên nhận là tái sanh của Đạt Lai Lạt Ma và đã được tấn phong."
 
Khi bản thân tôi được công nhận là hoá thân đời thứ Mười Bốn của Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1939 thì liên hệ Đạo Sư và Bảo Hộ giữa Tây Tạng và Trung Hoa đã chấm dứt  [trước đó] rồi. Vì vậy cho nên, không có cần phải đặt câu hỏi về nhu cầu sử dụng chiếc Lư Vàng để xác nhận việc tuyên nhận hoá thân của tôi. Điều mà rất nhiều người biết là vị Nhiếp Chính của Tây Tạng vào thời điểm đó cùng với  Hội Đồng Quốc Gia Tây Tạng đã tuân theo phương thức tuyên nhận Đạt Lai Lạt Ma dựa trên những tiên đóan của các vị Lama cao trọng, của các vị thầy tiên tri cùng với các linh ảnh hiện ra tại Hồ Lhaomi Latso;  và Trung Quốc không có bất kỳ một  liên hệ dính líu gì đến việc này. Cho dù là như thế, có một số nhân viên cao cấp có liên hệ trong chính quyền Trung Quốc Quốc Dân Đảng ( Guomintang), đã xảo quyệt tung ra những lời nói dối trong giới báo chí nói rằng họ đã đồng ý có những bước đi trước qua việc sử dụng cái Lư Vàng, và nói thêm rằng ông Wu Chung-tsin đã chủ toạ lễ tấn phong của tôi, vân vân. Lời nói dối này đã được vạch trần bởi Ngabo Ngawang Jigme, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực của Hội Nghị Quốc Gia Nhân Dân, một người được Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa xem là nhân vật cấp tiến nhất.  Điều này đã trở nên rất rõ ràng trong Phiên Họp thứ Nhì của Hội Nghị Toàn Vùng Tự Trị Tây Tạng (ngày 31/07/1989), khi vào cuối bài diễn văn, ông ta đã giải thích chi tiết tường tận và trưng bày cho mọi người xem các văn kiện như là các chứng cớ. Rồi ônh ta lên đòi hỏi:
"Có nhu cầu nào để cho Đảng Cộng Sản theo chân và tiếp tục những lời nói dối của Trung Quốc Quốc Dân Đảng không?"
 
Chánh sách giả dối và  hy vọng hão huyền
 
Trong thời gian vừa qua, có những trường hợp của những người quản lý vô trách nhiệm, chuyên quản lý  gia tài bất động sản giàu có kếch sù của những Lama. Những người này đã ham mê chạy theo những cách thức công nhận tái sanh một cách bất chính và điều này đã làm hại đến thanh danh của Giáo pháp, của cộng đồng tu sĩ cũng như của xã hội của chúng ta.
 
Thêm vào đó, từ thời Mãn châu đến nay, các giới chính trị có thế lực của Trung Hoa thường xuyên tham dự trong các phương tiện đầy xảo trá, sử dụng Phật giáo, các vị thầy của Đạo Phật cũng như các vị hoá thân Tulku như là các công cụ để hoàn thành các tham vọng chính trị của họ, qua việc họ can thiệp vào các vấn đề của Tây Tạng và Mông Cổ.  Ngày nay, những nhà lãnh đạo độc đoán của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, là những người cộng sản chối bỏ tôn giáo nhưng lại vẫn tham dự vào các vấn đề tôn giáo, họ đã áp đặt  cái gọi là chiến dịch giáo dục cải tạo, và tuyên bố về cái gọi là Trật Tự Thứ Năm, liên quan đến việc kiềm chế và công nhận các vị tái sanh, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng Chín, năm 2007.  Điều này thật là một sự xúc phạm và đáng bỉ hổ.  Việc bắt ép tuân theo những cách thức không thích đáng khác nhau để công nhận các tái sanh [với mục đích] xóa sạch truyền thống đặc thù của văn hoá Tây Tạng hiện đang tạo ra những thiệt hại rất khó chữa lành.
 
Thêm vào đó họ nói là họ đang chờ tôi chết đi và rồi họ sẽ tuyên nhận Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Lăm theo sự lựa chọn của họ. Điều này thật rõ ràng, là qua các quy luật, điều luật mới đây, cũng như qua các tuyên ngôn của họ tiếp theo sau đó , họ có một chánh sách rất chi tiết để lừa gạt người Tây Tạng, cùng lừa gạt những môn đồ của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và cộng đồng thế giới.  Do đó, bởi vì tôi có trọng trách phải bảo vệ Giáo pháp và chúng sinh, và ngăn chặn các âm mưu nguy hại ấy, nên tôi phải đưa ra lời công bố sau đây.
 
Tái sanh kế tiếp của Đạt Lai Lạt Ma
 
Như tôi đã có nhắc đến trước đây, tái sanh là một hiện tượng chỉ nên xảy ra, hoặc  là qua sự tình nguyện lựa chọn của cá nhân có liên hệ, hoặc ít nhất là cũng qua sức mạnh của nghiệp duyên,  phước báu và sự cầu nguyện.  Bởi thế cho nên, cá nhân người tái sanh có toàn quyền quyết định là muốn tái sanh ở đâu, tái sanh bằng cách nào và qua hình thức nào mà vị tái sanh sẽ được tuyên nhận. Đây là một thực tại không ai có thể ép buộc, hoặc sử dụng mánh khoé để thao tác.  Điều này đặc biệt lại càng không đúng đắn nếu những người cộng sản Trung Quốc, là những người dứt khoát chối bỏ ngay chính cái ý niệm về kiếp trước kiếp sau chứ đừng nói chi đến khái niệm về những vị Tulku tái sanh, bây giờ lại muốn can thiệp vào hệ thống [tuyên nhận] tái sanh, và nhất là tái sanh của các vị Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma. 

Điều này đi ngược lại với hệ tư tưởng chính trị của họ và mở ra cho ta thấy  là họ có hai bộ mặt. Nếu tình trạng như thế này tiếp diễn trong tương lai, thì không thể nào người dân Tây Tạng và những ai đang đi theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng có thể công nhận hay chấp nhận được.
 
Khi tôi vào khoảng chín mươi tuổi,  tôi sẽ tham vấn với những vị Lama cao trọng thuộc các truyền thống Phật Giáo  Tây Tạng, cùng với cộng đồng Tây Tạng và những người có liên hệ đang noi theo Phật Giáo Tây Tạng.  [Vào lúc đó] tôi sẽ thẩm địnnh lại về cơ chế Đạt Lai Lạt Ma xem có nên tiếp tục hay không.  Dựa trên căn bản đó, chúng ta có thể đi đến một quyết định.  Nếu [vào lúc đó] có quyết định là tái sanh của Đạt Lai Lạt Ma cần phải tiếp tục và có nhu cầu để Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Lăm được tuyên nhận thì trọng trách của việc tuyên nhận hoá thân phần lớn sẽ nằm trong tay của những nhân viên có liên hệ [được uỷ quyền], thuộc cơ quan Gaden Phodrang Trust của Đạt Lai Lạt Ma. Những vị này cần phải tham vấn với các vị thủ ngôi trì giữ các truyền thống tu tập khác nhau trong Phật Giáo Tây Tạng, cùng tham vấng với những vị Hộ Pháp tín cẩn, là những vị đã được nối kết chặt chẽ không phân lìa và đã tuyên thệ [trung thành] với dòng truyền thừa của các vị Đạt Lai Lạt Ma.  Những nhân viên [được uỷ thác này] cần phải nhận lấy những lời khuyên và hướng dẫn từ các vị có liên hệ và thi hành phương thức tìm kiếm và tuyên nhận dựa theo truyền thống trong quá khứ.  Tôi sẽ để lại những lời hướng dẫn rõ ràng minh bạch về việc này.  Hãy ghi khắc trong tâm khảm rằng, ngoại trừ vị tái sanh được tuyên nhận xuyên qua những phương cách chính thống như thế, thì không thể công nhận hay chấp thuận  một ứng viên nào được lựa chọn từ những lý do chính trị, bởi bất kỳ ai, kể cả bởi những người thuộc Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa.
 
Đạt Lai Lạt Ma

Our Bodies as the Reflection of Our Vibrations
extra-physical-bodies_Humanity-Healing

Life after death