Saturday, September 3, 2011

Im lặng đáng sợ

Im lặng đáng sợ


Nguyễn Văn Tuấn

Một trong những nét văn hóa trong các cơ quan công quyền ở trong nước là "văn hóa im lặng". Giới quan chức nói chung ít khi nào trả lời email hay thắc mắc của người dân, và càng im lặng trước những văn thư của quan chức nước ngoài. Thật khó giải thích thái độ im lặng đó, nhưng vấn đề là nó (sự im lặng) có khi gây tổn hại đến quốc gia …

Cách đây vài hôm tôi nhận được email của bạn đọc (là một sinh viên) phàn nàn rằng khi em gửi email đến thầy cô xin tư vấn thì đều không nhận được trả lời. Ngược lại, em này cho biết khi gửi email đến các thầy cô ở nước ngoài thì đều nhận được trả lời, có khi trả lời rất nhanh nữa. Em này hỏi tôi tại sao có sự khác biệt về thái độ giữa thầy cô ngoại và nội như thế. Tôi còn đang suy nghĩ câu trả lời thì chợt liên tưởng đến những chuyện gần đây. Những chuyện này nói lên cái văn hóa tôi gọi là văn hóa im lặng. Văn hóa này rất phổ biến trong giới quan chức.

Hình như các quan chức trong các cơ quan công quyền có văn hóa im lặng. Các nhân sĩ gửi thư đề nghị giải thích về tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến chuyến đi của đặc phái viên Hồ Xuân Sơn. Đáp lại sự quan tâm đó là một sự im lặng dài từ Bộ Ngoại giao. Rồi đến phần lớn các kiến nghị của nhân sĩ cũng rơi vào … không khí. Thư từ thắc mắc của người dân cũng thế: rơi vào im lặng. Có lần nói chuyện với một cựu đại biểu Quốc hội, chị gọi đó là "im lặng đáng sợ". Đáng sợ hay không thì tôi không rõ, nhưng thái độ đó chẳng những khó hiểu mà có khi còn gây tác hại.

Tác hại thì đã xảy ra. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Vietnam Airlines (VNA) thua kiện chỉ vì sự im lặng. Khoảng 5 năm (?) trước, tòa án Ý buộc VNA phải bồi thường cho luật sư Maurizio Liberati gần 5 tỉ lia và đồng thời thanh toán chi phí luật sư gần 60 triệu lia. Sự việc xảy ra chỉ vì VNA khinh thường tòa án, không cử người tham dự phiên tòa. VNA làm ngơ án lệnh. Sự việc dẫn đến tòa án Paris ra lệnh phong tỏa tài khoản VNA. Chẳng biết kết cục câu chuyện ra sao, nhưng đó là một bài học đắt giá cho sự xem thường luật pháp quốc tế.

Hôm qua, đọc được một tin đáng chú ý khác về tai hại nghiêm trọng của văn hóa "im lặng đáng sợ". Tác giả Nguyễn Duy An (làm việc tại tạp chí National Geographic của Mĩ) thuật lại câu chuyện đằng sau vấn đề bản đồ Hoàng Sa làm tốn nhiều giấy mực và công sức của người Việt vào năm ngoái như sau:

"Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm "Bản Đồ" để hỏi về việc "đổi tên" quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất "đang tranh chấp", ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands "Hoàng Sa" thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin "xác định" tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ "khẳng định chủ quyền" trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: "Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!"


Đọc những dòng chữ trên, tôi thật sự sốc. Thật khó tưởng tượng nổi tại sao những người có trách nhiệm quá vô cảm trước một vấn đề trọng đại như thế! Với những quan chức vô cảm như thế này thì nguy cơ mất mát và thua thiệt ngoại bang sẽ còn dài dài trong tương lai.

Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có văn hóa im lặng. Có lẽ không ai biết đích xác lí do tại sao các quan chức ta tiết kiệm lời lẽ, nhưng có thể nghĩ đến một số lí do sau đây:

Thứ nhất là vô cảm. Nhiều quan chức trong nước chẳng quan tâm đến chủ quyền biển đảo. Tôi đã gặp quan chức cấp tỉnh thậm chí còn chẳng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Thật ra, cũng không trách họ vì họ thiếu thông tin. Những gì báo chí đưa tin không đầy đủ, và những gì phổ biến trong Đảng thì chưa chắc là những thông tin đa chiều. Trong bối cảnh như thế, nếu một quan chức nhận một công văn từ nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, có thể họ nghĩ đó là chuyện của… Trung Quốc.

Thứ hai là ngạo mạn và khinh thường. Nhiều quan chức Việt Nam xem người dân như cỏ rác. Thử nhìn qua các quan chức ngồi vào ghế nói chuyện với người dân thì biết. Họ chẳng thèm nhìn mặt dân. Ngôn ngữ thì quát nạt hơn là nói. Có khi còn dùng cả ngôn ngữ tay chân. Còn nhớ một ông phó bí thư (?) tát một bạt tay vào mặt bà cụ khi bà nhờ ông này mua vé. Lại có quan chức nghĩ rằng VN có luật của VN, nên bất chấp luật quốc tế. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà VNA phớt lờ tòa án Ý và phải lãnh đủ hậu quả.

Thứ ba là văn hóa làm thuê. Người làm thuê chỉ nghĩ đơn giản làm cho xong việc và việc đáng với đồng lương. Một suy nghĩ rất phổ biến trong giới quan chức là trả lương đến đó thì làm việc đến đó. Họ không suy nghĩ gì ngoài chuyện cơm áo gạo tiền. Họ không cần phấn đấu (mà phấn đấu có khi lại nguy hiểm vì bị đồng nghiệp dèm pha) và chỉ làm việc như cái máy, cứ như đến hẹn lại lên. Tôi gọi đó là văn hóa làm thuê, và kẻ làm thuê thì chẳng cần quan tâm đến chuyện công chúng, vì đối với họ đất nước này ai quản lí chẳng thành vấn đề; vấn đề là có cơm ăn áo mặt cái đã. Đối với những quan chức loại này thì không mong gì họ có lòng với quê cha đất tổ và sự im lặng của họ hoàn toàn có thể hiểu được.

Thứ tư là do sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh chức vụ đi đôi đặc quyền và đặc lợi, thì có thể hiểu được các quan chức cần bảo vệ chức vụ của mình. Một cách an toàn là không phát biểu gì đụng chạm, hay tốt hơn nữa là … im lặng. Đó là chưa kể tình trạng chồng chéo về trách nhiệm và quyền lực. Một cơ quan có thủ trưởng nhưng cũng có bí thư. Nếu hai người này là một thì thủ tục còn tin giản, nhưng nếu là hai người khác nhau thì có khi cũng phiền phức. Nếu một quan chức muốn phát biểu họ phải xin phép cấp trên, và cấp trên lại xin phép cấp trên, cấp trên xin phép Đảng ủy, và cứ như thế chẳng ai dám nói gì.

Thứ năm là đá bóng. Nhìn qua cách hành xử của các cơ quan công quyền, họ có xu hướng "đá bóng". Người này tìm cách biện minh không nằm trong quyền hạn hay trách nhiệm của mình, rồi đề nghị qua người khác; người khác cũng có lí do để nói không thuộc trách nhiệm của mình. Nhất là vấn đề liên quan với nước ngoài, người ta càng dè dặt, dè dặt đến nổi cuối cùng chẳng ai có động thái gì.

Lại có một loại quan chức nghĩ chuyện quốc gia đại sự là chuyện của lãnh đạo, để cho lãnh đạo giải quyết. Còn lãnh đạo thì nghĩ đó là chuyện của lãnh đạo cấp cao hơn. Cuối cùng thì chẳng có ai hành động. Thay vì hành động thực tế thì Việt Nam có những đề nghị và chỉ thị (rất nhiều chỉ thị). Mà khi đã có hàng tá đề nghị lên và chỉ thị xuống thì sự việc coi như "đã rồi", chẳng còn cứu vãn được tình thế.

Thứ sáu là vấn đề tiếng Anh. Phải ghi nhận rằng các quan chức rất kém tiếng Anh. Do đó, đứng trước một văn bản tiếng Anh, họ không hiểu, hoặc hiểu nhưng không tốt lắm, và ngay cả hiểu nhưng không biết cách soạn thảo một văn thư trả lời. Ngay cả quan chức Bộ Ngoại giao cũng hạn chế tiếng Anh thì khó trách các bộ và ngành khác. Từ hạn chế về tiếng Anh dẫn đến thiếu tự tin, và hệ quả là … im lặng.

Dù là vô cảm, ngạo mạn, vô trách nhiệm, đá bóng, hay tiếng Anh (hay bất kể lí do gì) thì văn hóa im lặng đáng sợ là không thể chấp nhận được. Ngày nào cái văn hóa đó còn tồn tại thì ngày đó hệ thống hành chính chưa văn minh, người dân vẫn còn khổ, và chủ quyền quốc gia còn bị đe doạ. Người ta có thể cười đùa với quan chức im lặng, nhưng im lặng trước vấn đề chủ quyền tổ quốc bị xâm phạm là một sự phản bội (và người đó không xứng đáng làm người Việt) chứ không phải chuyện đùa được.


Nguyễn Văn Tuấn
http://nguyenvantuan.net/misc/9-misc/1336-im-lang-dang-so-

Friday, September 2, 2011

Sống thành công


Sống thành công

Trong cuộc sống, bạn hãy nhớ những điều sau đây...


Chấp nhận: Hãy biết chấp nhận người khác, con người thật của họ và những lựa chọn của họ cho dù có khi bạn khó mà hiểu được niềm tin, động cơ hay hành động của họ.

Niềm tin: Hãy tin tưởng vào chính mình, tin rằng mình sẽ thành công, hạnh phúc và những điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Những rào chắn chỉ là những chướng ngại nhỏ trên đường và bạn sẽ vượt qua chúng thôi.

Tha thứ: Hãy tha thứ và quên đi những điều không hay. Sự giận dữ, thù hận chỉ làm lòng bạn thêm trĩu nặng và muộn phiền. Hãy để lòng mình rộng mở và nhớ rằng, ai cũng có thể mắc sai lầm.

Hy vọng: Hãy hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất và đừng bao giờ quên rằng bất cứ điều tốt đẹp nào cũng có thể đến với bạn, miễn là bạn luôn sống và cố gắng hết sức mình.

Bỏ qua: Hãy bỏ qua những suy nghĩ tiêu cực trong đầu bạn. Thay vào đó, hãy tập trung vào mục đích chính của mình và hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp.

Chờ đợi: Hãy kiên nhẫn, bạn phải biết rằng dù cho sự việc tệ đến thế nào đi nữa thì nó rồi cũng sẽ tốt hơn thôi. Hơi ấm của mùa xuân luôn đến sau mùa đông khắc nghiệt nhất.

Yêu thương: Hãy để tình yêu lấp đầy trái tim bạn. Khi sự căm ghét ngự trị trong tim thì chẳng còn chỗ cho bất kì thứ gì khác, nhưng nếu có tình yêu hiện diện ở đó, bạn sẽ nhận ra rằng niềm hạnh phúc, niềm vui, thành công đều ở cả nơi đây.

Quản lý: Hãy quản lí thời gian và chi tiêu của mình một cách khôn ngoan, bạn sẽ ít bị căng thẳng, lo lắng. Như vậy, bạn có thể tập trung vào những việc quan trọng hơn trong cuộc sống của mình.

Chú ý: Đừng bao giờ phớt lờ những người bệnh tật, đang tuyệt vọng, yêu đuối hay đau đớn đáng thương. Hãy giúp đỡ khi có thể và luôn luôn giúp bằng lòng tử tế và sự hiểu biết của mình.

Đón nhận: Hãy mở mắt nhìn và đón nhận tất cả vẻ đẹp xung quanh bạn. Thậm chí ngay cả vào thời điểm khó khăn nhất cũng còn nhiều thứ khiến bạn phải mỉm cười, và mang ơn.

Cố gắng: Hãy cố gắng, cố gắng không ngừng. Thậm chí ngay cả khi ước mơ của bạn dường như không thể thực hiện được thì bạn cũng cứ thử xem sao. Bạn sẽ kinh ngạc trước những gì bạn có thể đạt được.

Làm việc: Hãy làm việc chăm chỉ mỗi ngày để trở thành con người tốt nhất mà bạn có thể, nhưng đừng bao giờ cảm thấy bản thân mình tội lỗi nếu bạn gặp thất bại hay lỗi lầm. Mỗi lần mặt trời mọc báo hiệu một ngày mới đều cho bạn cơ hội thứ hai.

Nhìn và lắng nghe: Hãy nhìn sâu vào lòng những người xung quanh bạn và lắng nghe họ nói, bạn sẽ thấy những điều tốt đẹp hiện hữu nơi họ. _()_

2-9: Ngày quốc nạn độc tài

2-9: Ngày quốc nạn độc tài


Trần Gia Phụng

Chế độ Cộng Sản Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ ngày 2-9-1945. Ngày nầy đánh dấu sự khởi đầu quốc nạn độc tài đảng trị toàn trị trên đất nước chúng ta cho đến ngày nay.

1.- Chủ trương độc quyền cai trị

Ngày 2-9-1945, đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) và Mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng CSĐD, cướp chính quyền. Lúc đó, đảng CSĐD chỉ có khoảng 5,000 đảng viên. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam đe 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 182.) Những người nầy thuộc ba nhóm chính: (1) Nhóm theo Hồ Chí Minh từ khi còn hoạt động ở Trung Quốc. (2) Nhóm trong nước từ thời Trần Phú và trước đó. (3) Nhóm từ Liên Xô đi thẳng về miền Nam. Tuy nhiên cả ba nhóm đều thuộc đảng CSĐD, dưới sự chỉ huy của Ủy ban Trung ương đảng CSĐD, và nằm trong hệ thống CSQT do Liên Xô lãnh đạo.

Đảng CSĐD và Mặt trận VM thành công là nhờ lúc đó quân đội Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, hạ võ khí, và hoàn toàn không chiến đấu; trong khi chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có quân đội để bảo vệ trật tự, an ninh. Do đó, bộ đội VM một mình thao túng, cướp chính quyền và công bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945.

Ngày 11-9-1945, tức chỉ gần 10 ngày sau khi chính phủ VNDCCH ra mắt, hội nghị Trung ương đảng CSĐD tại Hà Nội đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm độc quyền điều khiển mặt trận VM, và một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc quyền mặt trận VM. Mặt trận VM đang nắm chính quyền, cai trị đất nước. Như thế có nghĩa là đảng CSĐD độc quyền cai trị đất nước.

Do chủ trương độc tôn quyền lực, VMCS thực hiện hai kế hoạch: Thứ nhất tiêu diệt tất cả những thành phần đối lập, theo chủ nghĩa dân tộc. Thứ hai, thương thuyết với các thế lực nước ngoài (Trung Quốc và Pháp) nhằm duy trì quyền lực.

Kế hoạch tiêu diệt thành phần đối lập được VM gọi là "giết tiềm lực". Chỉ những ai chịu sự điều động của VM, thì được tồn tại. Còn những ai có năng lực nhưng không hợp tác với VM, dầu không chống đối VM, cũng bị VM tiêu diệt để loại bỏ những khả năng tiềm ẩn, có thể bất lợi về sau cho VM. Cho đến nay chưa có thống kê đầy đủ tổng cộng số người bị VM sát hại vì lý do chính trị và tôn giáo từ cấp cao nhất ở trung ương và các thành phố lớn, đến cấp thấp ở các làng xã trên toàn quốc, trong giai đoạn từ khi VM nắm quyền năm 1945. Con số phỏng chừng không dưới một trăm ngàn người trên toàn quốc trong cuộc giết tiềm lực của VM. Con số xem ra lớn lao, nhưng tính trung bình từng tỉnh hoặc thành phố, nhân lên tổng số tỉnh trên toàn quốc thì sẽ thấy rõ. Xin chú ý thêm rằng những người bị VM giết đa số là nhân tài của đất nước, có thể nguy hiểm cho cộng sản, nên mới bị cộng sản giết.

2.- Bước đầu thi hành độc tài

Việt Minh nắm hết ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng.

Ngay khi vừa được thành lập, tuy chưa có quốc hội để quyết định, chính phủ VNDCCH đặt thủ đô tại Hà Nội. Ngày 5-9-1945, bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký văn thư quy định quốc kỳ là "Cờ đỏ sao vàng", vốn là cờ của mặt trận Việt Minh, và bài "Tiến quân ca" của nhạc sĩ Văn Cao là quốc ca.

Lúc đó, quốc kỳ của CSVN có ngôi sao vàng ở giữa mập đầy, chứ không thon và sắc cạnh như về sau. Cờ nầy phỏng theo cờ của các đảng CSTH và Liên Xô. Theo tài liệu của CSVN, quốc kỳ và quốc ca của nhà nước VM đã được quyết định tại Đại hội đại biểu quốc dân ngày 16-8-1945 ở Tân Trào. (Bộ Quốc Phòng, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tr. 911.)

Về hành chánh, VM ban hành sắc lệnh ngày 5-9-1945 dẹp bỏ toàn bộ hệ thống quan lại cũ ở thành thị cũng như hào lý ở nông thôn, và lập ra những Uỷ ban nhân dân trên toàn quốc theo các cấp xã, huyện, tỉnh, bộ (kỳ). Uỷ ban nầy gồm những cán bộ VM và những người thân VM, trong đó đa số chưa thông thạo công việc hành chánh.

Nghị định ngày 8-9-1945 quy định tổ chức phổ thông đầu phiếu trong vòng hai tháng để bầu cử Quốc dân đại biểu đại hội (Quốc hội lập hiến). Tất cả công dân trên 18 tuổi đều được ứng cử và bầu cử, không phân biệt giới tính (nam, nữ), sắc tộc.

Tuy nói là hai tháng, nhưng VMCS tìm cách trì hoãn bầu cử. Mãi đến khi các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, từ Trung Quốc trở về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, đòi hỏi quyết liệt, quốc hội lập hiến mới được bầu ngày 6-1-1946. Do sự chỉ định và áp đặt của VM, đa số đại biểu VM và than VM đắc cử. Chỉ có một thiểu số nhân vật các đảng phái được đưa vào quốc hội. Cựu hoàng Bảo Đại cho biết sau khi ra Hà Nội, ông bị đưa đi "nghỉ mát" ở Thanh Hóa. Việt Minh cho người đến mời ông ứng cử. Ông không tranh cử, nhưng lạ lùng là ông vẫn được đắc cử ở Thanh Hóa với số phiếu là 92% cử tri đi bầu. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990, tt. 221-222.)

Quốc hội soạn xong bản hiến pháp và thông qua ngày 9-11-1946, gồm "Lời nói đầu", 7 chương và 70 điều. Lúc đó, các lãnh tụ đối lập với VM bị khủng bố đã rút lui hay bỏ qua Trung Quốc, không còn ai đối lập với VM. Vì vậy, Hiến pháp chưa được chính phủ ban hành, thì ngày 14-11-1946 quốc hội gồm đa số đại biểu VM còn lại, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp vừa thông qua. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 28.)

Trong chế độ cộng sản đảng trị, nhà nước VM chỉ là cánh tay nối dài của đảng CS và chỉ tuân theo những nghị quyết của đảng bộ cộng sản, thường được gọi là đảng ủy các cấp, từ trung ương xuống địa phương, chứ không theo luật pháp quy định. Nghị quyết là quyết định của một nhóm người (tức các đảng bộ VM) đưa ra trong một hội nghị, theo từng hoàn cảnh, chủ quan chính trị và quyền lợi của nhóm người đó. Vì vậy, để độc tôn quyền lực, nhà nước VM không cần đến hiến pháp nhằm tránh bị hiến pháp ràng buộc.

Ngày 11-9-1945, Hồ Chí Minh gởi thông báo cho các tỉnh trên toàn quốc, chỉ dẫn cách thức tổ chức Ủy ban nhân dân tỉnh. Mỗi ủy ban tỉnh gồm có từ 5 đến 7 người: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký, và 4 ủy viên (chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội). Ủy viên chính trị có nhiệm vụ thành lập tòa án nhân dân trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, Việt gian, tuyên truyền và huấn luyện chính trị cho nhân dân. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd. tt. 21-23.)

Việt gian là từ ngữ xuất hiện từ năm 1945 mà VM dùng để chỉ những người không đồng chánh kiến với VM, theo các đảng phái khác, hay cộng tác với người Pháp hoặc người Nhật (VM gọi là tay sai). Việt Minh muốn hãm hại ai, thì chỉ cần chụp mũ Việt Gian là bắt giết. Trong khi đó, Hồ Chí Minh và VM cộng tác và làm tay sai cho Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc thì sao?

Về danh xưng các đơn vị hành chánh, ngày 14-9-1945, VM lấy tên danh nhân hay tên cán bộ cộng sản đặt tên các địa phương, thay thế tên cũ. Đại khái tên các thành phố và tỉnh thành như sau: Thành phố Hoàng Diệu (Hà Nội); Nguyễn Trãi (Hà Đông); Đề Thám (Bắc Giang); Lý Thường Kiệt (Bắc Ninh); Ngô Duy Phường (Thái Bình); Tán Thuật (Hưng Yên); Trần Hưng Đạo (Nam Định); Hoa Lư (Ninh Bình); Trưng Trắc (Phúc Yên); Nguyễn Thái Học (Vĩnh Yên); Đội Cấn (Thái Nguyên); Ngô Quyền (Sơn Tây); Tô Hiệu (Hải Phòng); Phạm Ngũ Lão (Hải Dương); Thái Phiên (Đà Nẵng); Trần Cao Vân (Quảng Nam); Lê Trung Đình (Quảng Ngãi); Cao Thắng (Phú Yên); Nguyễn Huệ (Quy Nhơn) …

Tuy nhiên, người Việt không có thói quen dùng tên người để đặt tên thành phố theo kiểu Tây phương, nên ngày 9-10-1945, Hội đồng chính phủ quyết định các địa phương đều phải lấy lại tên cũ. Trong thời gian nầy, chính phủ VM chia nước thành 14 khu, vừa có tính chất hành chính, vừa có tính chất quân sự, và dùng con số để đặt tên các khu. Bắc Bộ có 7 khu (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14). Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9). Số thứ tự các khu về sau sẽ được điều chỉnh.

Điều đáng nói thêm là để thi hành chủ trương độc tài đảng trị, đảng CS và VM áp dụng chính sách "giáo dục phục vụ nhân dân" hay "giáo dục phục vụ chính trị". Đó là nền giáo dục nhằm mục đích trên lý thuyết là phục vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao động, nhưng trên thực tế là phục vụ chính trị, tức phục vụ chế độ do đảng CSĐD lãnh đạo.

Chính sách nầy do thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn nhập cảng từ Liên Xô. Có người cho rằng chính sách nầy ở Liên Xô do bộ trưởng Liên Xô là Kalenikov (?) đưa ra. Nguyễn Khánh Toàn có tên Nga là Minin, đã tòng học tại Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des Travailleurs d'Orient) ở Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến năm 1931.

Trong nền giáo dục nầy, chương trình học tập cho học sinh theo đúng lập trường đảng CSĐD, nhất là các môn nhân văn (quốc văn, sử địa, công dân hay chính trị). Chỉ những người có thẩm quyền trong đảng mới được soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa được xem là pháp lệnh, không giáo viên nào được giảng dạy ra ngoài sách giáo khoa. Giáo viên, học sinh đều phải "hồng" hơn "chuyên", tức phải mang tính đảng hơn là khả năng chuyên môn. Với một nền giáo dục như thế, CSVN chỉ đào tạo được những người biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ. Cộng sản chỉ cần như thế để ap đặt chế độc độc tài toàn trị. Tuy nhiên, chính đó là nguyên nhân suy thoái của Việt Nam ngày nay.

Chỉ sơ lược như trên, rõ ràng ngày 2-9 chẳng có gì vui mừng để gọi là "quốc khánh", mà là ngày mở đầu cho quốc nạn và quốc nhục độc tài đảng trị và toàn trị của dân chúng Việt Nam.


Trần Gia Phụng
Toronto, 30-8-2011

Thursday, September 1, 2011

Đòi dân chủ cần minh bạch, công khai

Đòi dân chủ cần minh bạch, công khai

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn tiểu thuyết Đói (Sult) ấn hành năm 1899 nhà văn Knut Hamsun người Na Uy thuật một cảnh hai người đồng lõa nói dối lẫn nhau. Nhân vật chính là một nhà báo trẻ đang không có việc làm thường xuyên; lại mới bị đuổi nhà vì không trả tiền thuê. Ngồi trong công viên anh, anh gặp một ông già ôm tờ báo cũ đến ngồi kế bên. Ông ta hỏi anh ta ở đâu. Không ai muốn tự giới thiệu mình vô gia cư, anh bịa ra một địa chỉ: Số 2, Khu Saint Olav. Trò chơi nói dối giữa hai người bắt đầu một cách vô hại như vậy.

- Số 2 hả? Ồ, tôi biết tất cả mọi người ở cái nhà đó. Này, cái anh chủ nhà tên là gì nhỉ?

- Happolati, anh ta lại bịa đại ra.

- À, cái thằng Happolati ấy!

Nhân vật kể chuyện tìm cách nói lảng sang chuyện khác nhưng ông già không tha, hỏi tiếp:
- Happolati, cha đó đi biển phải không nhỉ?

- Không, thằng em anh ấy mới đi biển. Anh này tên là Johann Arendt Happolati!

- Nghe tay đó giỏi lắm phải không?

Cuộc đối thoại toàn bịa đặt cứ thế tiếp tục, người kể chuyện khoe anh Happolati là một đại gia, buôn bán đủ thứ hàng, hàng da, giấy, lông vịt làm áo lạnh, mua từ bên Tầu, bên Nga, vân vân. Happolati còn sáng chế ra một loại máy điện để đọc được Kinh Thánh nữa. Có hồi anh ta làm đại sứ ở nước Ba Tư. Còn cô con gái anh ta thật đẹp mĩ miều, cô Ylajali, đẹp như một nàng công chúa. Còn bà vợ hắn thì béo ơi là béo. Ông già muốn chứng tỏ mình biết chuyện, góp thêm chi tiết:
-Cái anh Happolati này làm chủ nhiều nhà cửa lắm, tôi nghe nói vậy.

- Không, tôi không biết.

Hai người hào hứng trao đổi với nhau toàn những điều bịa đặt. Họ đồng lõa trong cuộc chơi giả dối này. Nhà báo thất nghiệp bịa một chuyện gì lại được ông già phụ họa. Cho tới lúc nhân vật chính chán quá, anh nói thẳng: Này, nói thật với ông, tôi bịa đấy! Toàn chuyện bịa cả. Cả ông nữa, ông cũng làm như cái thằng Happolati là có thật nữa! Tôi không quen bịa đặt dối trá như vậy bao giờ. Tôi chán lắm rồi!

Nói dối mãi chắc có lúc ai cũng thấy chán, dù chỉ là những lời nói dối vô hại. Nhưng nếu người ta phải tập nói dối mỗi ngày, ngày nào cũng nói đi nói lại những điều không có thật, những điều chính mình cũng không tin, thì chắc sống như vậy chán lắm! Vậy mà trên thế giới có những người phải nói dối suốt đời!

Một chế độ độc tài dựa trên một bộ máy đàn áp, nhưng luôn luôn phải có thêm một bộ máy dối trá đi kèm. Không những nhà nước nói dối, người dân cũng phải tập thói quen nói dối cho phù hợp, dễ sống trong chế độ. Dối trá trở thành một tập quán, một nét văn hóa đặc thù! Cứ như vậy, hai bên nhà nước và nhân dân đồng lõa nói dối lẫn nhau.

Nhiều người sống ở trong nước Việt Nam tới bây giờ mỗi ngày vẫn phải vừa sống vừa nói dối kiểu đó. Nhất là các nhà báo, các chuyên viên ngành truyền thông! Không nói dối không được! Ngay cả những người muốn xã hội sống thật hơn, sống lành hơn, đạo đức hơn, những người đang yêu cầu chế độ cộng sản phải thay đổi, có khi ra trước công chúng họ cũng phải đóng trò, không nói hết sự thật. Không phải họ nói xạo cho được yên thân, mà họ thành thật nghĩ rằng cần nói tránh, nói lảng, không nói hết các ý nghĩ của mình thì cuộc đấu tranh mới có hiệu quả.

Gần đây khi các nhà trí thức và giới thanh niên ở Hà Nội và Sài Gòn đi biểu tình, họ phải nhắc đi nhắc lại, là họ không đòi chế độ thay đổi đường lối cai trị dân. Trước sau, chỉ hô một khẩu hiệu là phản đối chính sách xâm lược của chính quyền Trung Quốc mà thôi. Để khỏi bị đưa ra tòa buộc tội âm mưu lật đổ chế độ! Trong khi đó, ai cũng biết nhu cầu thật của nước ta là chế độ cần thay đổi một cách toàn diện; để tiến lên cho bằng thế giới chung quanh!

Làm cách nào chúng ta có thể chống một nước lớn đang lấn áp nước mình trong khi những người câm quyền của nước mình cư xử rụt rè, yếu ớt, nhu nhược? Ngay cả khi tầu chiến của Trung Cộng đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, báo đài nhà nước cũng chỉ gọi đó là những "tầu lạ!" Không được phép gọi tên thật ra! Báo chí của Nhà nước nói dối và dậy dân cách nói dối. Người dân chỉ dám thì thầm bảo nhau: Tầu lạ, tầu quen, tầu nào cũng là Tầu cả! Nhưng chỉ nói thì thầm thôi!

Muốn chấm dứt cảnh nước ta bị nước "đồng chí anh em" lấn áp thì đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại. Nếu không, thì người dân phải thay đổi những người đang cầm quyền. Những cuộc biểu tình gần đây không dám nói thẳng sự thật đó. Muốn có chính sách đối ngoại mới thì phải cho người dân được quyền lên tiếng trước vấn đề trọng đại này. Nghĩa là người dân phải có quyền tụ họp, phải có quyền biểu tình và lên tiếng nói để bầy tỏ thái độ. Tóm lại, là đòi cho người dân Việt Nam có những quyền công dân căn bản: Tự do hội họp và tự do phát biểu!

Chúng ta có thể hiểu rằng trong thâm tâm, những người đi biểu tình đều biết rằng nhu cầu lớn nhất của dân tộc Việt Nam là tự do dân chủ. Điều số 2 trong hiến pháp hiện hành viết: "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân …" Chỉ khi nào người dân Việt Nam được tự do bỏ phiếu chọn người lãnh đạo nước mình, thì những người cai trị mới thực sự chịu trách nhiệm với dân, phải lắng nghe ý kiến của dân. Chính sách đối ngoại hiện nay chỉ do một nhóm người độc quyền quyết định. Chính sách đó thất bại, chúng ta đã thấy từ dân chài lưới đến tầu nghiên cứu của Việt Nam vẫn bị tấn công, hải phận Việt Nam vẫn bị xâm chiếm. Đã đến lúc người Việt Nam không thể chỉ hô hào đả kích người cầm quyền bên Trung Quốc không thôi. Phải đòi hỏi chế độ chính trị ở Việt Nam thay đổi hoàn toàn, để nhà nước thực sự phản ảnh ý nguyện của người dân.

Giới trí thức và thanh niên, sinh viên Hà Nội đã biểu tình trong hai tháng qua đã nhẫn nhục tự giới hạn mục tiêu đấu tranh của mình. Không ai nói đến mục tiêu quan trọng hơn việc đả kích Trung Quốc, không ai nói đến điều kiện tiên quyết để thay đổi chính sách đối ngoại, là người dân Việt Nam phải có quyền tự do quyết định vận mệnh nước Việt Nam!

Cuối cùng, thì mặc dù những người đi biểu tình hết sức nhẫn nhục, họ vẫn bị đàn áp, bị bắt bớ! Họ vẫn bị vu cáo tội "tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, … tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị," theo thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội! Nghĩa là người ta vẫn đe dọa dân, họ vẫn không công nhận người dân có quyền yêu nước … nhiều hơn Bộ Chính trị đảng Cộng sản!

Cuối tuần qua, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo Sư Chu Hảo, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện đã gặp gỡ các người cầm quyền tại thành phố Hà Nội để "làm việc." Cuộc trò chuyện diễn ra gần ba tiếng đồng hồ, nhưng bản tin của blog Nguyễn Xuân Diện chỉ tường thuật ông này nói, rồi ông kia nói, mô tả đến chi tiết trước mặt mỗi người "đều có 1 đĩa nhỏ có 1 chùm nho và 2 chiếc bánh ngọt và một ly nước trà xanh liên tục được chế thêm nước nóng" nhưng không hề cho độc giả biết hai bên đã nói những chuyện gì cụ thể! Không nhắc đến nhu cầu tư do dân chủ của người dân mà chỉ nhắc nhở "vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ" mà không nói rõ bất đồng ý kiến như thế nào.

Tất nhiên, những người họp mặt có thể đã đồng ý với nhau không tiết lộ những chi tiết về nội dung tranh luận, cho nên không kể hết. Nhưng, dù rất kính trọng quý vị đã đi họp, chúng ta cũng phải tự hỏi: Giữ im lặng như vậy để làm gì? Các cuộc biểu tình trong hai tháng qua là những hành động công khai, mục tiêu được minh bạch nêu lên trước cả thế giới. Có gì mà không dám nói thật, nói thẳng hết ra? Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, quý ông Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, đang mặc nhiên làm đại diện của một phong trào quần chúng. Người bi quan có thể lo ngại rằng khi giữ im lặng như vậy, quý vị đã "mắc mưu cộng sản!"

Đảng Cộng sản đang biến những cuộc biểu tình vì lòng yêu nước của hàng ngàn người dân thành một cuộc thảo luận giữa một nhóm nhà trí thức với chính quyền thành phố; mà lại thảo luận trong vòng bí mật! Họ cố ý biến những cuộc biểu tình mang tính chất toàn dân, toàn quốc, thành một biến cố địa phương trong thẩm quyền của một thành phố. Họ có thể đánh lạc hướng dư luận. Thay vì đặt ra vấn đề các quyền tự do căn bản của người dân, như quyền tự do hội họp, tự do phát biểu, họ sẽ dùng guồng máy tuyên truyền biến chúng thành một cuộc tranh luận có tính cách kỹ thuật về việc áp dụng Nghị định số 38/2005/NĐ-CP của ông Nguyễn Tấn Dũng!

Luật sư Nguyễn Văn Đài đã khẳng định: "Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật."

Điều nguy hiểm là khi chọn lựa sự im lặng, không tường thuật đầy đủ và công khai các cuộc thảo luận với chính quyền, chúng ta đã bước vào đúng con đường mà đảng Cộng sản muốn chọn. Sức mạnh của những người dân đi biểu tình trong hai tháng qua là tính chất minh bạch, công khai. Tự tước bỏ tính minh bạch công khai là "tự tước vũ khí của mình!"

Trong lúc đó, một nhu cầu lớn của dân tộc Việt Nam bây giờ chính là Sự Thật. Nhân vật của Knut Hamsun (Giải Nobel 1920) đã tự ý chấm dứt trò chơi bịa đặt, dối trá của anh ta, vì chán quá. Cả nước Việt Nam bây giờ cũng cần làm như vậy, vì lý do quan trọng hơn: Sống xứng đáng với phẩm giá con người. Cần nói sự thật: Chúng tôi muốn người dân Việt có quyền tham dự vào những quyết định lớn của quốc gia. Chúng tôi không chấp nhận để cho một nhóm người quyết định tất cả mọi việc, trong vòng bí mật của họ! Chúng tôi muốn các quyền tự do dân chủ phải được thi hành thật sự. Chúng tôi chấm dứt, không muốn đóng trò nữa! Nhiều khi, im lặng cũng là đồng lõa che giấu sự thật!


Ngô Nhân Dụng

Tại sao kinh tế Việt Nam sẽ phải sụp đổ?

Tại sao kinh tế Việt Nam sẽ phải sụp đổ?

 

Lưu ý: bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, một thành viên trong nhóm, và không nhất thiết trùng khớp với quan điểm chung của nhóm biên tập.

Bài viết này nhằm nêu lên nguyên nhân gốc gây ra thực trạng khủng hoảng kinh tế Việt Nam hiện nay và cách giải quyết nó.

Cách đây 25 năm, khi đứng trước khủng hoảng kinh tế-xã hội toàn diện thì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải nhường bước cho các cải cách kinh tế thị trường, chuyển từ nền kinh tế quan liêu tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường được gắn thêm cái đuôi Xã Hội Chủ Nghĩa. Thực chất thì cái đuôi này chỉ là một cách thức để giữ vững sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam khỏi sự đào thải của tiến trình lịch sử.

Trong 3 năm 1989, 1990, 1991, các cuộc cách mạng tại Đông Âu và Liên Xô cũ đã xóa bỏ hệ thống các nước Xã Hội Chủ Nghĩa tồn tại gần nửa thế kỷ tại Châu Âu. Tại đó, toàn xã hội trong đó có những Đảng viên Đảng Cộng Sản đã đồng lòng đập tan chính Nhà nước Cộng sản mà họ đã dựng lên cách đó gần nửa thế kỷ. Tất cả người dân tại Đông Âu và Nga đã bừng tỉnh rằng họ không thể tiếp tục duy trì một ý thức hệ không tưởng được nữa.

Kết quả của những cải cách kinh tế thị trường của Đảng Cộng Sản Việt Nam là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa được duy trì đến năm 2011 này. Tuy nhiên họ đang đối diện với một cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ hơn so với 25 năm trước kia khi cả thế giới chuẩn bị bước vào giai đoạn suy thoái kinh tế. Những cải cách kinh tế thị trường trước kia dường như đã phát huy hết tác dụng của nó.

Về mặt chính trị, họ vẫn nắm giữ độc quyền chính trị bằng cách xây dựng hệ thống an ninh, mật vụ dày đặc hòng bóp nghẹt mọi nguy cơ thay đổi chính trị có hại cho họ từ trong trứng nước. Họ đưa ra điều 4 hiến pháp để đảm bảo duy trì quyền lực lãnh đạo đất nước Việt Nam vĩnh viễn cho Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Thế nhưng, mọi cố gắng của họ đều vô ích. Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cố gắng làm việc không thể làm, đó là cứu vãn một ý thức hệ ĐÃ bị văn minh nhân loại đào thải.

Họ cố gắng cai trị 90 triệu dân không thích họ, không phục họ, không cộng tác với họ.

Làm tôi nhớ lại bài học sinh vật trong đại học: Liệu Jurassic Park có thể nuôi sống khủng long, cho dù tái tạo được chúng?

Câu trả lời là KHÔNG.

Việc tái tạo genes tuy khó, nhưng theo lý thuyết có thể làm. Nhưng khủng long không đủ "khỏe" để tồn tại. Chúng ăn quá nhiều, cây cỏ không thể đủ cho chúng ăn.

Một Jurassic Park sẽ cần hàng triệu tấn cây cỏ hàng năm, đang khi chất thải ra từ các con khủng long sẽ quá nhiều, tự làm chúng bệnh mà chết.

Đừng thương xót chúng, chúng đã qua "thời oanh liệt", và bị đào thải do không thể tiến hóa đúng hướng, đó là thay vì nhỏ lại, thì chúng lớn ra và vụng về, cục mịch.

Chủ nghĩa Cộng Sản không khác, một thời từng là các con khủng long khổng lồ, máy bay Liên Xô lớn nhất thế giới, phi thuyền hiện đại nhất (vài năm đầu, từ Spunik), hùng mạnh nhất thế giới (Liên Xô, Trung Quốc đông dân hơn và nhiều vũ khí hơn NATO + Mỹ).

Nhưng Chủ nghĩa Cộng Sản không thể tiến hóa đúng hướng, mà như các con khủng long, nó không đủ "khỏe" để tồn tại.

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam giờ không thể còn cạnh tranh nổi với nền kinh tế thế giới. Gạo, cá, tôm, gia công giày dép, dệt vải làm sao đem lại nhiều ngoại tệ bằng những món hàng công nghệ kỹ thuật cao như máy ảnh, máy vi tính … Những món đồ tại Việt Nam làm ra đều có giá trị thấp, đơn giản, nặng về gia công, lao động mà thiếu đi chất xám, công nghệ. Chính vì vậy, Việt Nam chỉ được biết đến như một đất nước có nhân công giá rẻ và khi lợi thế này mất đi thì các nhà đầu tư sẽ lũ lượt bỏ sang đất nước khác kiếm lợi thế này thôi. Bằng chứng rõ rệt nhất cho chúng ta thấy là số vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2011 giảm gần 50% trong 6 tháng đầu năm 2011 (Vietstock, 30/06/2011)

Đi kẻm với nền kinh tế kém cạnh tranh là hệ thống giáo dục lỗi thời, nặng về định hướng chính trị. Hệ quả của hệ thống giáo dục này là số người trẻ được đào tạo ra không có đủ các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống để tìm việc và thích ứng trong một thế giới toàn cầu hóa đầy cạnh tranh này. Khi xây dựng nhà máy kiểm định và lắp ráp chip của Intel tại Sài Gòn, hãng này cho biết họ chỉ có thể tuyển được 40 nhân sự phù hợp mặc dù chỉ tiêu tuyển dụng lên tới 3.000 người. Hiện tại, tỷ lệ người thất nghiệp độ tuổi 15-29 chiếm đến 2/3 tổng số người thất nghiệp (Doanh nhân Sài Gòn, 22/08/2011)

Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam sụp đổ từ khu vực kinh tế quốc doanh mà ra. Để có thể tiếp tục tồn tại, Đảng Cộng Sản Việt Nam tự đặt ra một khái niệm mới về nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa với nguyên tắc cơ bản là kinh tế quốc doanh làm chủ lực nền kinh tế.

Đảng Cộng sản sợ kinh tế tư doanh làm áp lực phải thay đổi chính trị, nên muốn bảo vệ chính họ bằng cách tạo lập nền kinh tế quốc doanh bao bọc xung quanh, làm "chủ lực". Nhưng họ quên rằng còn phải nuôi nền kinh tế này, và phải nuôi rất nhiều, do nó LUÔN LUÔN đói ăn!

Hiện nay có không dưới 3 triệu đảng viên hoàn toàn không có khả năng, và không xứng đáng nhận lương quốc doanh. Vì họ không có giá trị gì cả, có chăng là con số âm.

Nhưng họ rất đói ăn trong khi tài nghệ không ra gì cả. Mà 3 triệu đảng viên ai cũng đòi kiếm tiền cho "bằng chị bằng em", ai cũng đòi kiếm về cả tỉ VND là ít nhất/ năm, nhân lên cho 3 triệu đảng viên thì ít nhất phải 3 triệu tỉ VND, bằng 150 tỉ USD. Đó là một con số cực kỳ lớn so với GDP 100 tỉ USD hiện nay của Việt Nam.

Đảng Cộng Sản Việt Nam ngoài việc xài tiền trong việc quản trị, hành chính, mà còn phải NUÔI hàng trăm cty, tập đoàn quốc doanh, trong đó có hàng triệu đảng viên, gia đình dòng họ của họ.

Không nuôi đám này thì họ làm loạn, như nay PHẢI nuôi tàn dư VINASHIN vì họ có Ủy viên TW Đảng bao che, nhưng nếu nuôi họ thì phải tung ra THÊM hàng triệu tỉ VND trong 12 tháng tới gây lạm phát kinh hoàng như chúng ta đang chứng kiến hiện nay.

Kinh tế Việt Nam sẽ sập giống như kinh tế Liên Xô cũ từng sập, đó là do THIẾU NGOẠI TỆ mà ra.

Liên Xô thiếu ngoại tệ, không đủ xăng dầu, dân đói khổ, không có hàng ngoại nhập, lúa mì thiếu thốn không có USD nhập thêm về, nên lòng dân chán ghét cộng sản, quân lính mất tinh thần, KGB lo kiếm tiền mua bánh mì, Vodka, hơn là lo bắt các thành phần "phản động"; Smerch, GRU lo đào tị làm việc cho xã hội đen, mafia, buôn vũ khí kiếm tiền chứ hết còn vì Kremlin.

Một tình trạng không khác SẼ xảy ra, Đảng Cộng Sản Việt Nam đơn giản là không đủ tiền nuôi 3 triệu đảng viên.

Thứ ba, chế độ Cộng Sản Việt Nam là chế độ độc tài vậy nên không có khả năng tự sửa chữa lỗi hệ thống của chính nó gây ra. Bản chất chế độ độc tài cộng sản không hề có LUẬT PHÁP hay cơ chế điều phối và kiểm soát, tam quyền phân lập để hạn chế quyền lực, kiềm chế lòng tham của những đảng viên.

LUẬT PHÁP là do chính Đảng Cộng Sản viết ra, thi hành, thì làm sao nghiêm minh, làm sao công chính, vì chính những người viết luật, thi hành luật, là những người Cộng Sản, những người đang ăn hối lộ ngập đầu.

Kinh tế Việt Nam PHẢI SẬP vì nó không thể không sai lầm, không thể không sập. Nó sai từ các thành tố (chỉ lấy 3% dân chúng vào đảng, theo lý lịch, không tôn giáo, v.v…), từ cấu trúc tổ chức, từ ý thức hệ, từ lý luận nền tảng, lý luận phát triển, lý luận tồn tại.

Vì vậy, Kinh tế Việt Nam sập, Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam sập, không khác các con khủng long bị diệt chủng. Đã qua thời có thể thích ứng, tiến hóa, nay quá vụng về, cục mịch để có thể thay đổi và tồn tại.

Cách duy nhất để tiến hóa là DÂN CHỦ HÓA.

Nguồn: Dự Đoán Kinh tế

Lê Duẩn và Trung Quốc

Lê Duẩn và Trung Quốc

Trần Bình Nam

Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là một khuôn mặt về mưu mô và thao lược có lẽ chỉ đứng sau ông Hồ Chí Minh. Đó là một trong những lý do Hồ Chí Minh chọn ông làm Bí thư thứ nhất sau cuộc cải cách ruộng đất nhiều tai tiếng. Là một người cộng sản, Lê Duẩn kiên trì theo đuổi đường lối của Hồ Chí Minh là thống nhất Việt Nam và đặt cả nước dưới chế độ cộng sản. Ông đã chống lại một cách có kết quả chính sách của Mao Trạch Đông không muốn thấy miền Bắc chiếm miền Nam dù bằng hiệp thương bầu cử hay bằng vũ lực. Đối với Trung quốc một Việt Nam chia đôi, miền Bắc không thể mạnh để thành một mối lo cho Trung quốc, đồng thời làm trái độn ở biên giới phía Nam giúp Trung quốc tránh sự tiếp cận với các lực lượng quân sự Hoa Kỳ.

Từ khi bị áp lực của Trung quốc ký Hiệp định Geneve chia đôi dất nước, Lê Duẩn thấy rõ chính sách của Trung quốc đối với Việt Nam trong hơn một ngàn năm qua không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là thay đổi lối nói mồm miệng, từ "thiên triều và thuộc quốc" thành "anh em trong khối xã hội chủ nghĩa" môi hở răng lạnh giả dối.

Theo hồi ký "Cuối đời nhớ lại" của ông Nguyễn Thành Thơ một đảng viên từng có chân trong Trung ương đảng ghi lại rằng, khoảng cuối năm 1978 khi tình hình biên giới Việt – Kampuchia và Việt –Trung căng thẳng, quân lính Kampuchia thường vượt biên giới cướp của và giết người mà Việt Nam không có đối sách gì. Trong một dịp Tổng Bí thư Lê Duẩn đi thăm huyện Cần Giờ tháp tùng bởi Huyện ủy và 30 cán bộ cao cấp khác, Nguyễn Thành Thơ ghi:

"Lê Duẩn nói 'Các anh có gì hỏi tôi giải đáp' . Anh em phấn khởi rộ lên 'Xin hỏi K nó quấy rối biên giới ta, tàn sát cướp phá rất dã man điên cuồng, sao ta đối phó rất lôi thôi, chúng tôi khó hiểu'. Anh Lê Duãn trả lời 'Các đồng chí hỏi đúng là một tình hình cả nước đều quan tâm, chúng tôi đau đầu lắm ngủ không được, không phải là vấn đề Khmer đỏ, vấn đề Pôn Pốt mà là vấn đề ai đằng sau Khmer đỏ, Pôn Pốt. Lần này ta có đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung quốc đánh ta thôi, nhưng ta không chiếm K, Trung quốc cũng không chiếm ta."
(Cuối Đời Nhớ Lại của Nguyễn Thành Thơ)

Nhưng để hiểu trọn vẹn cái nhìn của Lê Duẩn đối với Trung quốc trong suốt thời gian từ những năm 1949 sau khi Mao chiếm Trung hoa lục địa thành lập Cộng hòa Nhân Dân Trung quốc, chúng ta cần đọc bài nói chuyện của Lê Duẩn với các tướng lãnh quân đội cộng sản Việt Nam (?) vào một thời điểm trong năm 1979 sau khi Trung quốc tấn công vào biên giới Việt Nam (Bài nói chuyện của Lê Duẩn năm 1979 ) . Bài nói chuyện này được lưu trữ tại Thư viện Quân đội Nhân dân ở Hà Nội và do Christopher Goscha có được và dịch ra Anh ngữ cho Chương trình Lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh (Cold War International History Project – CWIHP) thuộc Trung tâm Nghiên cứu Woodrow Wilson ở Washington D.C.
[TBN:

1. giáo sư Gosha tốt nghiệp tiến sĩ sử học đại học Sorbonne, Paris chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại các nước Đông Nam Á.

2. Chúng ta đang nghiên cứu một bài nói chuyện của một Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Ngôn từ trong những đoạn trích dẫn sau là ngôn từ của một lãnh tụ cộng sản Việt Nam sau khi vừa chiến thắng Hoa Kỳ, có lúc cường điệu và tự phụ. Cốt lõi ở đây là chắt lọc cái nhìn của ông Lê Duẩn đối với Trung quốc để rút ra những kinh nhiệm đáp ứng trong hoàn cảnh Việt Nam đang bị áp lực nặng nề của Trung quốc]


Lê Duẩn cho biết sau Hiệp định Geneve và sau khi không có hiệp thương chuẩn bị bầu cử như Hiệp định dự liệu, Trung quốc gây sức ép cho Bắc Việt Nam không được khởi động cuộc chiến tranh tại miền Nam, nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn cương quyết phát động cuộc chiến. Lê Duẩn không nói ra, nhưng ai cũng biết đảng cộng sản Việt Nam có thể làm vậy vì có hậu thuẫn của Liên xô. Lê Duẩn nói với các cán bộ:

"Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneve, rõ ràng là Chu Ân Lai đã [ép] chia đất nước ta làm hai. Sau đó ông ta gây sức ép buộc chúng ta không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn chúng ta đứng lên nhưng họ không thể làm gì để ngăn cản chúng ta"

Theo Lê Duẩn, sau khi miền Bắc đã phát động chiến tranh du kích tại miền Nam, biết không ngăn được nên Mao Trạch Đông đổi cách suy nghĩ, lợi dụng cuộc chiến tại miền Nam để đưa quân vào Bắc Việt dòm ngó, chuẩn bị cho chương trình xâm lấn Việt Nam về sau:
Trích bài nói của Lê Duẩn:

"Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội đến giúp chúng ta xây dựng đường sá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.

Chúng ta biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.

Sau đó, Mao bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ. Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu. Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào."

Năm 1960 khi chiến tranh du kích tại miền Nam bắt đầu tăng cường độ, tại đại hội 3 của đảng cộng sản Việt Nam, [TBN: từ 5-10/9/1960 tại Hà Nội, Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn giữ danh vị Chủ tịch đảng.] Trung quốc đã thuyết phục đảng cộng sản Việt Nam khuyến cáo Pathet Lào trả hai tỉnh giáp biên giới Việt Nam cho chính phủ Vientaine, nói là để tránh Mỹ đổ quân vào Lào, nhưng ý đồ thật của Mao là cắt tay cắt chân của Việt Nam, và sau này dùng chi viện rộng rãi mua chuộc Lào bủa một gọng kềm bên trái cùng với gọng kềm bên phải của căn cứ hải quân Yulin nằm ở cực nam đảo Hải Nam làm hai gọng kềm kẹp Việt Nam vào giữa.

Lê Duẩn nói với các cán bộ của mình:

"Khi chúng ta chuẩn bị chiến tranh du kích tại miền Nam sau khi ký Hiệp định Geneve, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm theo cái nhìn của Trung Quốc! Mao đã bức hiếp chúng ta và chúng ta đã phải làm điều đó."

Lê Duẩn giải thích sở dĩ Hoa Kỳ đổ quân vào miền Nam Việt Nam vì Liên xô và Trung quốc bất hòa nhau, và chính sách của Liên xô và Trung quốc về Việt Nam đối nghịch nhau. Liên xô muốn Hà Nội khởi động chiến tranh tại miền Nam, Trung quốc thì không muốn. Lê Duẩn dẫn chứng năm 1961 khi Liên xô, Trung quốc, Việt Nam còn là một khối (TBN: lúc đó dấu hiệu bất hòa chưa hiện ra bên ngoài) tổng thống Kennedy đã không dám can thiệp vào Lào nên cùng với Nga và Trung quốc trung lập hoá Lào và lập chính phủ liên hiệp quốc cộng tại Vientaine. Hoa Kỳ và Trung quốc có cùng mục tiêu trong việc trung lập hóa Lào, chủ yếu là chắn con đường tiếp vận quan trọng từ bắc Việt Nam vào miền Nam để giảm thiểu khả năng xâm lăng miền Nam của Bắc Việt.

Lê Duẩn nói:

"Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi Liên Xô và Trung Quốc xung đột với nhau, Mỹ được Trung Quốc thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ sự trả đũa của Trung Quốc."

Trong một đoạn khác Lê Duẩn phán đóan rằng nếu không có sự đồng ý của Trung quốc, Hoa Kỳ đã không dám gài mìn phong tỏa hải cảng Hải phòng mùa hè năm 1972 và dùng B52 bỏ bom Hà Nội tháng 12 năm đó.

Lời Lê Duẩn:

"… Tuy nhiên, Trung quốc và Hoa Kỳ đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.."

Buổi nói chuyện của Lê Duẩn đã giải thích tại sao Hà Nội phát động cuộc chiến tranh vào các thành phố và trung tâm dân cư miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân. Cường độ và địa bàn tấn công, gồm cả tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài gòn đã làm cho bộ tham mưu của tướng Westmoreland ngạc nhiên. Ngạc nhiên không phải vì không đoán trước Bắc Việt sẽ tấn công. Tình báo Hoa Kỳ đã ghi nhận sự chuyển quân của Bắc Việt. Ngạc nhiên vì tướng Westmoreland và Bộ quốc phòng Hoa Kỳ nghĩ rằng bộ đội cộng sản sẽ đánh mạnh vào các đơn vị quân đội Mỹ sau Tết và trong dịp ngưng bắn Tết họ chỉ quấy phá nhỏ. [TBN: Victory At any Costs by Cecil B. Currey, page 266-267].

Ngoài ra song hành với cuộc tấn công Mậu Thân nhiều sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt bao vây căn cứ Khe Sanh, và các chiến lược gia Hoa Kỳ vẫn còn bình luận về mục tiêu chính của Bắc Việt là thu đoạt một thắng lợi dứt điểm tại Khe Sanh như họ đã thắng trước đây tại Điện Biên Phủ hay tấn công đồng loạt vào các trung tâm dân cư để tạo một cuốc nổi dậy. Lê Duẩn cho thấy Hà Nội không có ảo tưởng hạ căn cứ Khe Sanh trước hỏa lực của Hoa Kỳ. Bao vây Khe Sanh chỉ là kế "điệu hổ ly sơn" [TBN: đúng hơn là "điệu trâu lên rừng"].

Hà Nội cũng không có ảo tưởng gì nhân dân miền Nam sẽ nổi dậy. Vào năm 1967 Hoa Kỳ có hơn 500 nghìn quân tại Việt Nam. Quân đội chính quy Bắc Việt đã chạm trán với quân đội Hoa Kỳ trong thung lũng Ia Drang trong năm 1965 và phải trốn qua biên giới Lào để khỏi bị tiêu diệt nên biết rằng không thể đụng trận mãi với các sư đoàn quân Hoa Kỳ được. Lê Duẩn và Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam tính rằng nếu Hoa Kỳ đưa thêm quân vào Việt Nam thì trước sau Bắc việt cũng thất bại. Nên chiến lược của Lê Duẩn là đánh một trận xả láng vào các thành thị miền Nam bất chấp quy ước, chấp nhận mọi tổn thất để tạo xúc động tâm lý tại Hoa Kỳ để Hoa Kỳ ngưng tăng quân và dọn đường thương thuyết.

Mục tiêu của Lê Duẩn đã đạt được. Bắc Việt đã tổn thất nặng nề về mặt quân sự, nhưng thắng lớn về mặt chính trị. Tổng thống Johnson đã không gởi thêm quân theo yêu cầu của tướng Westmoreland và đề nghị thương thuyết. Trớ trêu là lúc đó Trung quốc ngăn cản không cho Hà Nội thương thuyết. Trung quốc hứa sẽ gởi thêm súng đạn, đồng thời xúi dục Hoa Kỳ đổ thêm quân vào. Trung quốc muốn Việt Nam đánh để kiệt quệ đến người lính cuối cùng.

Lời Lê Duẩn:

"Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.

Đến lúc Hoa Kỳ muốn thương lượng với chúng ta, đại sứ Trung quốc tại Hà Nội Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: "Các anh không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các anh phải dụ quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ". Ông ta gây áp lực với chúng ta làm cho chúng ta bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề đơn giản mà rất mệt mỏi.

Chúng ta không nghe lời của Ho Wei. Chúng ta ngồi xuống ở Paris. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo với Mỹ: 'Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông muốn đưa vào Việt Nam bao nhiêu lính, tùy các ông'.

Lê Duẩn cho biết rằng có một lần Mao giả vờ không nhớ sử để cảnh cáo Lê Duẩn rằng, quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh bị Việt Nam đánh bại, nhưng quân Mao sẽ thôn tính Việt Nam, và Lê Duẩn đã phản ứng bằng cách cảnh giác rằng Việt Nam cũng sẽ đánh thắng quân Mao.

Lê Duẩn thuật lại cho các cán bộ nghe một mẫu chuyện giữa ông ta và Trường Chinh với Mao và Đặng Tiểu Bình tại Bắc Kinh năm 1963.

"Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: "Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á".

Ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: "Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á bây giờ đã rõ rồi". Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Cũng trong dip đó Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!
Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Trời! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!


Mao không hỏi thẳng về Việt Nam, nhưng gián tiếp hỏi tôi: "Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?" Tôi nói: "Đúng". Ông ta hỏi: "Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?" Tôi nói: "Đúng". Ông ta nói: "Và quân Minh nữa, phải không?"

Hiểu ý của Mao, tôi nói [nửa đùa nửa thật]: "Đúng. Nếu các ông đánh chúng tôi chúng tôi cũng sẽ đánh thắng các ông. Các ông có biết điều đó không?"

Qua bài nói chuyện của Lê Duẩn chúng ta thấy Trung quốc, dù thuộc thể chế nào, vương triều, dân chủ hay cộng sản đều có mộng thôn tính Việt Nam. Và Việt Nam dù thuộc thể chế chính trị nào cũng cảnh giác manh tâm của Trung quốc.

Quá trình cảnh giác của người cộng sản Việt Nam bắt đầu từ những năm 1954 khi Trung quốc ép ông Hồ Chí Minh ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước. Và chính quyền hiện nay cũng có sự cảnh giác cao độ. Tuy nhiên không gian xoay xở mỗi thời mỗi khác, và cách đáp ứng của chính quyền hiện nay chưa được xem là thích ứng với hoàn cảnh.

Thời đại của Hồ Chí Minh Hà Nội dễ xoay xở hơn vì có Liên xô đối trọng với Trung quốc. Và cho đến năm 1975 Trung quốc còn yếu kém về cả hai mặt kinh tế và quân sự so với Hoa Kỳ.

Bối cảnh hôm nay khác hẵn. Liên xô sụp đổ Hà Nội phải dựa vào Trung quốc hơn để tồn tại. Kinh tế Trung quốc hiện chỉ thua Hoa Kỳ, với một lực lượng quân sự hùng mạnh gấp nhiều lần quân đội cộng sản Việt Nam. Về mặt lãnh đạo, Lê Duẩn vừa có tài thao lược vừa có quyền quyết định (ngay cả khi ông Hồ Chí Minh còn sống vì được Hồ Chí Minh tin cậy) nên tuy có lúc ông phải nhượng bộ áp lực Trung quốc, ông vẫn rất cứng rắn trước các đòi hỏi qúa đáng của Trung quốc. Sau khi Lê Duẩn chết (7/1986) các Tổng bí thư kế tiếp không ai mưu lược và có nhiều quyền quyết định như Lê Duẩn. Nhất là từ đại hội 9 năm 2001 khi Nông Đức Mạnh lên Tổng bí thư, sự lãnh đạo tại Hà Nội càng ít bén nhạy hơn, và hiện nay với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng không có gì khá hơn.

Về mặt chiến lược từ tháng 4/2006 Hà Nội đã tìm cách xích lại gần Hoa Kỳ một cách dè dặt để tìm thế đối trọng với Trung quốc. (Quan Hệ Việt Trung 1991-2008). Nhưng về mặt chiến thuật cung cách đối đáp của Hà Nội trước áp lực của Trung quốc không thích hợp và được xem là nhu nhược đến độ người ta nghi ngờ Trung quốc đã nắm trọn Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam trong tay.

Nước nhỏ cạnh nước lớn cẩn trọng về ngoại giao là cần, nhưng không được để cho sự cẩn trọng làm quốc gia bại liệt. Phải biết phản ứng khi cần thiết. Không thể để cho Trung quốc bắn giết ngư dân hay cấm đánh cá trong vùng biển quốc tế mà không mạnh mẽ lên tiếng hay đưa nội vụ ra trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc dù biết Trung quốc sẽ dùng phiếu phủ quyết. Không thể để cho tàu hải giám Trung quốc húc chìm thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam mà không dám minh danh tố cáo Trung quốc mà chỉ nói là "tàu lạ". Không thể nể Trung quốc mà không đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa ra trước tòa án quốc tế trong khi Việt Nam có nhiều bằng chứng pháp lý chủ quyền, dù biết rằng tòa án quốc tế không thể thụ lý vì Trung quốc sẽ không đồng ý kiện về chủ quyền đất đai. Việt Nam cần nghiên cứu các án lệ kiện chủ quyền đất đai trên thế giới để chuẩn bị cần làm gì để có nhiều may mắn thắng trước tòa quốc tế. Việc chính quyền Hà Nội vì tế nhị ngoại giao không lên tiếng chính thức và kịp thời trước các vụ lấn đảo lấn biển của Trung quốc có thể là một bất lợi về sau. Và lệnh cấm nhân dân biểu tình chống hành động xâm lấn của Trung quốc cũng có thể là một bất lợi pháp lý khác.

Trong bài nói chuyện Lê Duẩn có nói đến khung cảnh quốc tế mới để chứng minh rằng Trung quốc không thể đánh Việt Nam mà không bị phản ứng của thế giới. Ông nói:

"Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh nước ta để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh một cách dễ dàng. [Đầu năm nay] Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: "Không được đụng đến Việt Nam"! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. Ngay cả trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do."

Ông Lê Duẩn nói đúng. Nhưng quan hệ giữa Liên xô và Hoa Kỳ bấy giờ và bây giờ đối với Việt Nam khác nhau. Năm 1979 Việt Nam có Hiệp ước an ninh vừa ký với Liên xô và Liên xô là một đồng minh tin cậy được. Khi Trung quốc đánh Việt Nam Liên xô đã đưa hạm đội đến đóng ngoài khơi Thanh Hóa Nghệ An, và Hồng quân Liên xô sẵn sàng mở mặt trấn biên giới phía bắc Trung quốc nếu Trung quốc tiến sâu hơn vào Hà Nội.

Hiện nay Việt Nam chỉ có quan hệ lỏng lẻo với Hoa Kỳ. Nhưng dù có liên minh chặt chẽ Hà Nội cũng không thể hoàn toàn tin cậy vào quyết tâm của Hoa Kỳ. Hai nước vừa đánh nhau (1965-1975) và bài học của Việt Nam Cộng Hòa còn nóng hổi. Giả thuyết Hoa Kỳ và Trung quốc chia đôi thiên hạ để cùng thống trị thế giới không phải chỉ là một giả thuyết suông. Nó có thể trở thành hiện thực và Việt Nam sẽ là con bò sữa làm lễ tế thần.

Nhưng nếu vào thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa bó tay chịu chết khi Nixon và Kissinger nói chuyện với Mao và Chu Ân Lai trên đầu mình, thì hiện nay Hà Nội có thế xoay xở hơn.

Trước hết Hà Nội cần xích lại thật gần với Ấn Độ, Nhật Bản, thân thiện với Liên bang Nga, Cộng đồng Âu Châu và liên minh chặt chẽ và cụ thể với Hoa Kỳ. Sau đó Hà Nội có thể mở một mặt trận ngoại giao và "lobby" để cảnh giác Hoa Kỳ rằng nếu Hoa Kỳ thông đồng với Trung quốc để bỏ Việt Nam thì ngày đó cũng là ngày tàn của siêu cường Hoa Kỳ. Tương quan Hoa Kỳ – Trung quốc của thế kỷ 21 khác với tương quan đầu thập niên 1970 thế kỷ trước.

Đối nội các nhà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam cần huy động nội lực của nhân dân qua một chương trình cải tổ chính trị và chỉnh đốn vũ trang với chiến thuật du kích trên không, trên biển và đất liền.

Hoàn cảnh Việt Nam hôm nay có khó, nhưng không phải Việt Nam không có đường thoát ra khỏi nanh vuốt Trung quốc. Những anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thời nào cũng có./.


Trần Bình Nam

2011/09/01

Chùa Giác Minh ở Đà Nẵng tiếp tục bị phong tỏa - Công an Đà Nẵng vừa ăn cướp vừa la làng


PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất BP 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) Tel.: Paris (1) 45 98 30 85<br> Fax : Paris (1) 45 98 32 61 E-mail : pttpgqt@gmail.comPHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com


Chùa Giác Minh ở Đà Nẵng tiếp tục bị phong tỏa - Công an Đà Nẵng vừa ăn cướp vừa la làng


2011-09-01 | Thích Viên Định | PTTPGQT

PARIS, ngày 1.9.2011 (PTTPGQT) - Tin từ Đà Nẵng cho biết sau những cuộc đàn áp, sách nhiễu, hăm dọa, bắt bớ nhằm ngăn chận không cho chùa Giác Minh cử hành lễ Vu Lan hôm 14.8.2011 mà Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã báo động qua 3 bản Thông cáo báo chí vào các ngày 12.8, 15.8, và 16.8.2011.

Chùa Giác Minh ở thành phố Đà Nẵng là nơi đặt trụ sở Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, và Tổng vụ Thanh niên Viện Hóa Đạo, do Hòa thượng Thích Thanh Quang làm Chánh Đại diện và Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên. Hòa thượng cũng là Viện chủ chùa Giác Minh.

Nhiều năm qua, các đại lễ Phật giáo như Phật Đản, Vu Lan, nhà cầm quyền Cộng sản luôn cấm đoán chùa và Phật tử cử hành các nghi thức Phật giáo, lấy cớ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) là "Giáo hội bất hợp pháp". Thế nhưng khi chư Tăng, Phật tử chất vấn văn kiện nào của Nhà nước Cộng sản ban hành cho biết GHPGVNTN "bất hợp pháp" thì cán bộ, công an, tổ dân phố cứng họng không trả lời hay trưng văn bản cấm đoán. Vì thực tế nhà cầm quyền Cộng sản chưa có một văn bản chính thức nào giải thể GHPGVNTN !

Thường lệ thì sau các ngày lễ lớn, công an rút đi không còn canh gát cẩn mật chùa Giác Minh. Nhưng năm nay, sau ngày lễ Vu Lan (14.8.11) công an tiếp tục phong tỏa chùa Giác Minh, đặt chùa vào hoàn cảnh nội bất xuất ngoại bất nhập. Đây là hành động đàn áp tự do tôn giáo một cách trắng trợn. Mặt khác, công an cho người mang 3 bài viết của Doãn Nguyên Hưng đăng trên báo Công an Thành phố Đà Nẵng, kể từ ngày 12.8.11, đến tận nhà các Phật tử cốt gây hoang mang, lo sợ. Qua bài báo mang tựa đề "Vạch trần những luận điệu vu cáo, xuyên tạc" ông Nguyên Hưng dối gạt đồng bào về quá trình hình thành của giáo hội dân lập và truyền thừa lịch sử của Đạo Phật Việt Nam có 2000 năm tuổi, là GHPGVNTN, bôi nhọ Đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, chư tôn giáo phẩm ở Quảng Nam Đà Nẵng, và ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo trong nước.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã chuyển hồ sơ đàn áp chư Tăng, Phật tử chùa Giác Minh nhờ Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam đệ trình Hội đồng Nhân quyền LHQ trong hóa họp năm nay.

Sau đây là bài nhận định của Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, về hiện tình chùa Giác Minh tại Đà Nẵng :



Vừa ăn cướp vừa la làng


Vừa qua, Nhà cầm qưyền Cộng sản đã đàn áp, ngăn chận không cho chư Tăng và Phật tử tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu theo truyền thống hằng năm tại chùa Giác Minh Đà Nẵng, làm chết bà Cụ thân mẫu của Sư cô Đồng Tâm, lại còn vu cáo nhà chùa vi phạm luật pháp và tuyên truyền dối gạt rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã tự ý sáp nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do Nhà cầm quyền Cộng sản thành lập năm 1981 nên nay không còn nữa…

Vấn đề trung niên xuất gia, vãn niên xuất gia, cải gia vi tự… là những việc bình thường, hợp pháp, đã có từ xưa trong Phật giáo, nay Nhà cầm quyền Cộng sản lại ngang ngược, gọi việc đó là bất hợp pháp để lấy cớ đàn áp.

Vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo là bản chất của Cộng sản. Năm 2004, Hoa Kỳ đã từng đặt Việt Nam vào danh sách CPC (Countries of Particular Concern) các quốc gia đàn áp nhân quyền và tôn giáo trên thế giới cần quan tâm đặc biệt.

Đảng Cộng sản dùng chủ thuyết Mác-Lênin, vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo, tiến lên Xã hội chủ nghĩa là một trò lừa gạt vĩ đại ở thế kỷ 20. Gần nửa thế giới đã bị mắc lừa, sập bẫy, trong đó có Việt Nam.

Nhưng đến cuối thế kỷ 20 thì thế giới đã tỉnh ngộ. Liên Sô và các nước Cộng sản Đông Âu đã đồng loạt từ bỏ chủ thuyết này.

Cho đến nay, không một nhân vật đương quyền Cộng sản Việt Nam nào có thể trả lời được câu hỏi: "Mô hình Xã Hội chủ nghĩa là gì?", nhưng vẫn tiếp tục lừa dối và dùng bạo lực, khủng bố, tù tội, đàn áp nhân dân để cố duy trì chế độ độc tài độc đảng quái ác này.

Năm 2006, Nghị Hội Châu Âu đã ký Quyết Định lên án các Đảng Cộng sản là phi nhân, gây tội ác với nhân loại.

Hoa Kỳ lập Đài tưởng niệm trên 100 triệu nạn nhân bị Cộng sản sát hại trên toàn thế giới. Trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sát hại trên 1 triệu người.

Đảng Cộng sản chỉ dùng bạo lực để cướp chính quyền. Đảng Cộng sản chưa bao giờ được dân chúng bỏ phiếu và đắc cử trong một cuộc tranh cử với đảng phái nào một cách văn minh, hợp pháp.

Chủ thuyết vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc, tiến tới thế giới đại đồng là chủ thuyết bán nước, không xem trọng cội nguồn tổ tiên dân tộc và nhất là cố tình tiêu diệt tôn giáo hoặc chỉ lợi dụng tôn giáo làm công cụ như lời Lênin đã nói: "Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp và kiểm soát quần chúng"

Với một Nhà cầm quyền có chính sách, đường lối bán nước, đàn áp tôn giáo như vậy, làm sao chư Tăng, Ni, Phật tử chân chính và nhất là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một Giáo hội dân lập, kế thừa truyền thống 2000 năm giữ nước, dựng nước của chư Tổ, lại có thể gia nhập vào "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam", thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị ngoại vi của Đảng Cộng sản được.

Năm 1981, Nhà cầm quyền Cộng sản lập một danh sách, đóng con dấu giả, lấy danh nghĩa là phái đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đi tham dự việc thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ Hà Nội và tuyên truyền rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã đồng ý sáp nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của Mặt Trận Tổ Quốc. Đó chỉ là một sự tuyên truyền lừa dối để lấy cớ đàn áp chư Tăng các chùa còn kiên trì lập trường gìn giữ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền thống, không bán mình cho Cộng sản.

(Xin xem thêm bản "Nhận Định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và Phật giáo" của Hoà thượng Thích Quảng Độ, và tài liệu "Sự thật về việc thống nhất Phật giáo" của Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ Cộng sản, là kiến trúc sư trong việc thành lập Giáo hội Nhà nước năm 1981 này sẽ rõ).

Việt Nam là một quốc gia mà hầu hết dân chúng đều theo tôn giáo. Đàn áp tôn giáo là huỷ diệt sức sống của dân tộc.