Friday, November 26, 2010

Phó Thường Dân

Phó Thường Dân

Vietsoul:21

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Anh Tám hồ hởi

Nhớ lại, sau 30 tháng 4 mấy anh Tám hồ hởi ló mặt, lên dây thiều cùng các anh nón cối nhận "làm đầy tớ nhân dân" trong chế độ mới. Tuyệt đại đa số người miền Nam đùng một cái từ công dân một quốc gia tự do trở thành phó thường dân trong đất nước thống nhất "anh em một nhà".

Mấy anh Tám làm "đầy tớ" này thì lên tiếng tớ đây có quyền quyết định tất cả: đầy ải các phó thường dân ra vùng kinh tế mới và bọn "tay sai Mỹ Ngụy" vào các trại tập trung cải tạo. Đã là anh em một nhà thì nhà của em cũng là nhà của anh. Anh Tám bảo mấy em giao nhà, hiến đất, cơ xưởng để phục vụ nhân dân. Hơn nữa các anh đã dựng chòi tạo điều kiện cho các em "lao động vinh quang" còn các anh phải ở lại tiếp quản tài sản và ở trong (lòng) quần chúng nhân dân. Cách mạng là đổi đời mà.

Vì được gọi là cặn bã xã hội và được cách mạng tái sinh vào phận phó thường dân nên đa số đám trẻ miền Nam cỡ tuổi tôi được đưa vào ngọn cờ đầu "thanh niên xung phong". Có chăng còn vài đứa như tôi sót lại trên sàng vào được Đại Học thì lụi cụi mới hai ba năm trên ghế học đường lại được tuyển đi "nghĩa vụ quân sự" trên chiến trường ở tuyến đầu tổ quốc. Phó thường dân chúng tôi bao giờ cũng được nhà nước xã hội chủ nghĩa ưu đãi tạo cho cơ hội phấn đấu thành anh hùng kiểu liệt sĩ.

Tôi nói thôi bỏ qua đi tám, nhưng anh Tám hồ hởi không chịu bỏ qua nên đám phó thường dân đành liều bỏ chạy tứ phương, tám hướng.

 

Bác-Tôi

Đúng ra thì tôi phải gọi ông ngang cỡ "ông cố nội" nhưng vì ông thích được gọi bằng Bác thành ra Bác (bác) Tôi (tôi) chắc cũng không mích lòng gì và chẳng bị mắng là (hỗn) láo.

Nói thì không ai tin chứ thực ra số phận của tôi và Bác có vẻ gắn bó với nhau lắm. Bác mà không đem thiên đường cộng sản về Việt Nam thì chắc tôi và Bác chẳng mắc mớ gì đến nhau. Nếu Bác cứ xây dựng thiên đường cộng sản ngoài ấy ấy đi thì cũng chẳng đến nông nỗi nào với tôi. Nhưng mà Bác lại cứ "toàn thắng lại về ta" nên chơi luôn thằng em đàng trong.

Vốn dĩ được xem là "thành phần có vấn đề" nên tôi có tư tưởng phản động theo gương Bác liều mình tìm đường cứu thân (thật) thay vì cứu nước (láo) như Bác.

Thời đó các chiến sĩ giải phóng ta đã quyét sạch tàu Mỹ, tàu Tây mất tuyệt chẳng còn đâu ở bến Nhà Rồng để tôi lon ton lên làm bồi như Bác nên tôi phải vượt biển đi chui từ kênh rạch rặc mùi bùn. Cái mạng phó thường dân thời thuộc địa Pháp của Bác trông ngon lành hơn kiểu phó thường dân thời xã hội chủ nghĩa của tôi nhiều. Làm bồi như Bác sang hơn tôi một cái rụp. Bác sang Tây (do Bác chọn nó) còn tôi sang Mỹ (vì nó chọn tôi) nhưng mà kiểu nào thì cũng là người lưu vong cả thôi.

Cuộc đời của Bác thì đã được ngàn vạn đầu sách nói đến, kể cả sách của Bác (Trần Dân Tiên, T. Lan) tự họanữa chứ chẳng phải chơi. Của đáng tội, chẳng cần Bác tự họa thì cũng đã có ngàn vạn văn nô bồi bút thổi phồng rồi, làm chi cho má nó khi (xin phép bác Tưởng Năng Tiến).

Đời phó thường dân lang thang như tôi thì có cặm cụi viết lắm cũng chưa đủ dăm trang. Ấy thế mà nó lại cứ hao hao giông giống như thế nào mới chết chứ.

Bác viết báo, tôi viết blog. Bác phó nhòm, tôi phó tiến sĩ ("mát" in VN kiểu cử nhân Luật anh ba Nguyễn Tấn Dũng). Bác học Lê-nin, tôi học Lin-cơn (Abraham Lincoln). Bác là cộng sản, tôi gốc cộng hòa.

Nói giông giống như vậy thôi chứ tôi thì tiền hậu bất nhất không như Bác trước sau như một. Tôi với Bác vốn trước đây cùng ở một đất nước chuyển tiếp từ thuộc địa sang hậu thuộc địa mà không có một thời gian thực sự độc lập để thoát ra khỏi cái tâm thức nô dịch.

Bác một dạ một lòng với ông Mác, ông Nin cung nghinh chủ thuyết cộng sản về nô dịch hóa đồng bào mình, hết cải tạo lao động, cải cách ruộng đất đến chỉnh huấn, thanh trừng theo rập khung anh cả. Bác luôn dùng bạo lực cách mạng độc tài đảng trị theo huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản. Ngay cả cuối đời thì Bác cũng cà cuống (chết đến đít còn cay) đi gặp ông Mác ông Nin, nghe bài ca mẫu quốc Mao lần cuối. Bác hành xử "hân hoan, hồn nhiên" (à la Nguyễn Hữu Liêm trong bài "Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an") với tâm thức của một người thuộc địa. Hóa ra Bác, chủ tịch nước, cũng không hơn gì một phó thường dân.

Tôi sang đây ở xứ đế quốc Mỹ nhưng quyết học cách làm người công dân và kháng cự để không bị nô dịch hoá: tham gia biểu tình phản đối những chính sách quân phiệt, đế chế hoặc chính sách bất công thiên vị; phát biểu ý kiến đả phá chủ trương Tư Bản thống trị toàn cầu dù theo kiểu Đế quốc Mỹ hay Đại Hán Trung Hoa; cổ xuý cho việc giải thực tâm thức thuộc địa cho đồng bào bên ni và bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

Thực dân, nô lệ, ăn mày (tựa đề một bài viết của Nguyễn Hoàng Văn)

Qua đến thời "kinh tế thị trường" và "định hướng xã hội chủ nghĩa" này thì số phó thường dân không giảm đi nhưng ngược lại nó tăng vụt một cách chóng mặt.

Ở bên nớ, nông dân không chuyên nghề ở nhà gặp nhiều "sự cố ở huyện" quá đỗi nên rủ nhau biệt xứ. Họ thế chấp nhà cửa mua vé đi lậu, đi chui làm người rơm, người rừng cho bọn tư bản đế quốc dẫu viễn xứ gian truân, khó khăn trăm bề nhưng có lẽ còn có thể kiếm ăn hơn là chịu nhục chịu đói làm phó thường dân ở làng xã.

Dân có học thì cũng chẳng khấm khá gì. Chỉ cần tư duy độc lập không chịu làm con cừu đi theo lề phải là bị đạp xuống thành phó thường dân ngay. Ngó qua ngó lại thì cả nước chứ chẳng phải nông dân, công nhân, trí thức gì gì đều là phó thường dân[1] dưới cái chính quyền nô dịch này.

Đảng CSVN cầm quyền (cầm tiền) ở Việt Nam càng ngày càng lộ cái dị dạng hai đầu: vừa mang dấu ấn nội-thực-dân trong cơ chế độc tài đảng trị, vừa trao thân cho tân-thực-dân (neocolonialist) dưới chiêu bài "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa."

Các điều khoản trong Hiếp Pháp nhà nước XHCN Việt Nam như "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai" (Điều 18 Hiến Pháp 1992), "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" (Khoản 1 Điều 5 Luật Đất Đai) là hình thức che đậy cho quyền xử dụng trong tay thiểu số tập đoàn cai trị tung hoành cướp đất đồng bào[2].

Qua cơ chế độc tài đảng trị, bọn nội-thực-dân khai thác tài nguyên quốc gia, bán tháo bán đổ, sang nhượng cho thuê bất kể tác hại đến an ninh và môi sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng công ăn việc làm, và tước đoạt phương tiện sinh hoạt kinh tế của người dân.

Dưới chiêu bài "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" thì ngân sách quốc gia được đút vào các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điển hình là Vinashin. Từ đó những "ông chủ trá hình" tha hồ tùy tiện xử dụng và biển thủ nguồn tài chánh này (thuế từ dân chúng, tài nguyên quốc gia, kiều hối, vay mượn nợ ngân hàng quốc tế). Với phương thức văn vẻ "cổ phần hoá" (equitization), tài sản công cộng bỗng dưng biến mất dưới bàn tay phù phép và lọt vào túi những tên tư bản đỏ nằm trong tập đoàn chính trị đầu sỏ (oliarchy)[3].

Mặt khác, cái tập đoàn chính trị đầu sỏ đấy lại hành xử như những người nô dịch thời thuộc địa. Họ chưa (muốn) biết làm thế nào để thoát ra được cái tâm thức nô dịch dù đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi nước. Vì thế các ông "đầy tớ nhân dân" với quyền lực tuyệt đối nhưng sống trong trạng thái tâm lý của kẻ vừa là nội-thực-dân vừa là tên nô dịch cho tân-thực-dân.

Họ vừa ở trong trạng thái trầm uất (depression) tự ti ngu dốt, thiếu khả năng hơn các chủ nhân ông tân-thực-dân, vừa huyên hoang trong chứng bệnh vĩ cuồng vị kỷ (narcicisstic grandiosity)[4]. Vĩ cuồng trong những đề án hoang tưởng Vinashin, dự án đường sắt cao tốc, và công trình lễ hội Ngàn Năm Thăng Long.

Họ hăm hở nhại lại những gì các nước Âu Mỹ thành công để tưởng rằng mình "Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng …"[5] Họ biển thủ, trộn cắp muốn mua lấy phú quý, vinh quang nhưng vẫn chung quy phường mèo mả, gà đồng.[6]

Hoang tưởng vĩ cuồng cho mình chỉ cần (ăn ba đấu gạo) đổ bao nhiêu công phiếu, nợ nần vào Vinashin là vươn vai Phù Đổng trong khi trình độ kỹ thuật chưa làm được một con ốc đủ tiêu chuẩn công nghệ cao.

Hoang tưởng vĩ cuồng khi nghĩ rằng chỉ cần vay nợ (đời con đời cháu cũng chưa trả hết) làm đường sắt cao tốc là trở thành tân tiến trong khi hệ thống đường sắt cổ lỗ sỉ xuống cấp, vẫn còn lưới sắt chống đá, vẫn còn đổ phân xuống đường rày, và vẫn còn những đàn bò đi trên/ngang qua quốc lộ cao tốc.

Hoang tưởng vĩ cuồng trong khi người dân thiếu đất trồng trọt, không đủ nhà ở thì lại quy hoạch (đầu cơ địa ốc) xây dựng các sân golf, casino, và resort phục vụ những con ông cháu cha, những tân-thực-dân ngoại kiều và Việt kiều.

Mọi thứ đều hoành tráng bên ngoài và tạm bợ nhưng rỗng tuếch bên trong. Họ không hiểu rằng những phương tiện hào nhoáng bên ngoài này không mua được bản chất và cốt cách bền vững lâu dài.

Điều căn bản đáng cần làm là xây dựng hạ tầng cơ sở từng bước một vững chắc (không theo kiểu đầu voi đít chuột, nay làm mai sửa, càng sai càng sửa, càng sửa càng sai) cụ thể như nâng cao mức sống người dân (không theo kiểu từ cao nhỏ giọt xuống – "trickle-down", làm đầy tớ cho người); nâng cao dân trí (giáo dục miễn phí, tự do ngôn luận và phản biệt) thì không thấy quan tâm.

Không một mảy may đầu tư vun xén cho hạ tầng cơ sở được vững chải mang tính sách lược và hệ thống hóa. Chỉ thấy "phát triển" ngoài da như đi trên mây chẳng bao giờ chạm chân chấm đất.

Nào là xây nhà quốc hội hoành tráng cho đa số nghị ông, nghị bà bù nhìn, gật gù cho đúng khuôn mẫu "dân chủ" kiểu "Đảng ta". Không thấy xây nhà xí[7], xây thư viện hay lắp cầu[8] qua sông cho người nghèo đi lại, hay học sinh có phương tiện đến trường sinh hoạt căn bản. Chỉ thấy thụ động chờ xem những ai không thể bịt mắt trước đau khổ nhọc nhằn của đời phó thường dân, góp công góp của, và xắn tay vào thực hiện thì "thiên tài" Đảng ta cướp công lấy điểm là nhà nước rất "no". Nếu không phải là một hình thức nội-thực-dân chỉ cốt phục vụ cho tập đoàn chính trị đầu sỏ và đám ăn theo thì gọi là gì?

Theo ông Memmi[9] thì tâm lý của kẻ thực dân là luôn coi mình có văn minh, tiến bộ, bậc thầy của người bị trị.

Phong tác thực dân luôn nhập vai vào người đô thị, thời thượng. Kiểu cách thực dân thì đương nhiên được nâng cao và phục vụ bởi người nghèo khó túi vá áo ôm. Những người bị cho là "thiếu văn hoá, văn minh" này đa phần xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Họ bị bần cùng hoá và phải đổ ra đô thị làm cửu vạn, ôsin.

Họ sa vào đường cùng khi phương tiện sinh hoạt kinh tế nông thôn thì đã dần co hẹp do mất đất mất nhà, chi phí sản suất thì vụt cao, giá cả nông sản thì bị dìm ẻm, và thu nhuận của họ không đủ sống qua ngày trong khi lạm phát càng lúc càng gia tăng.

Một số khác đành phải gia nhập đội ngũ công nhân hạng bét cho các cơ xưởng sản xuất xuyên quốc gia (transnational). Họ được gián tiếp huấn luyện trở thành nô-lệ-thời-hiện-đại phục vụ cho giới thống trị toàn cầu.

Đám tân-thực-dân thông đồng với giới thống trị toàn cầu này rất thính hơi với lợi nhuận. Họ nhanh chóng và thường xuyên di dịch từ đô thị này sang đô thị khác tìm mồi. Họ hớt nước cốt trong nồi súp, rồi ra vẻ tử tế thương hại để lại phần xương xẩu sót dưới đáy nồi cho người địa phương. Việt Kiều, Ngoại Kiều thì có khác gì. Cả hai đều hối hả chung tay vào khai thác và nô lệ hoá giới lao động bần cùng.

Ở bên ni, người có học được tiếp xúc với nền văn hóa Âu Mỹ thì đã không ít kẻ bị mờ mắt với nền khoa học, kỹ thuật tân tiến. Trí thức hải ngoại dù cánh tả hay cánh hữu cũng đều dễ bị lôi cuốn vào diễn luận trọng Âu (eurocentrism). Con đường này không chóng thì chày cũng dẫn đến góc tối thực-dân-mới.

Giới có học biết đòi hỏi quyền lợi cho bản thân nhưng lại rụt rè trong việc đòi dân quyền và công bằng cho tha nhân. Họ tậu công ăn việc làm, đạt an sinh cá nhân trong môi trường tự do tương đối và an thân trong vị trí đó.

Họ tự viện cớ ứng xử nhiều kiểu khác nhau để âm thầm trương bảng "không tham gia chính trị" như thể đó là một phạm trù có thể khoanh vùng và cô lập ra khỏi cuộc sống. Họ là những người tự nguyện làm công dân hạng hai, sẵn lòng làm phó thường dân, và chưa dám làm một công dân thực thụ trong xã hội dân chủ phương Tây.

Họ giữ im lặng, chẳng hề lên tiếng hoặc xác định vị thế chính trị nào trước các chính sách kỳ thị về di trú hay bất công trong vấn đề dân quyền, nhất là khi cân nhắc và biết tác động của các chính sách này không ảnh hưởng trực tiếp tới mình. Họ giữ im lặng dù biết các chính sách này vi phạm nhân quyền gây nhiều thương tổn cho các sắc dân hoặc tôn giáo thiểu số mà mình cùng sống chung.

Sự im lặng đáng ngạc nhiên. Vì chính mình tự kiểm duyệt mình trong một hoang tưởng an toàn như con cừu đang đứng giữa được bao bọc bởi bầy đàn và để mặc cho đồng loại bị cắn xé ngoài rìa. Họ muốn lặng lẽ quên gốc gác màu da của mình. May thay cũng có những người không im lặng (Đừng bảo tôi im vì bạn im).

Cũng có người ngụy biện theo chước khác. Họ dùng cái "thinh lặng của thiền định nhà Phật" để lẫn tránh vào nơi an trú. Cái thinh lặng sấm sét truớc kêu gào, rên siết. Họ không thèm hiểu hay quên hẳn rằng một số quyền và tự do tương đối họ đang hưởng là kết quả từ những đấu tranh và hy sinh của nhiều công dân đi trước – những người đã can đảm thực hiện quyền công dân thực thụ. Họ sống ẩn với triết lý và học đường tại vị, che mắt bịt tai để không phải mục kích thảm kịch dành cho giới lao động chân tay và phục dịch – một khối tuy rất đông nhưng sống trong sợ hãi chỉ lo đến miếng cơm manh áo.

Trong khi đó, bộ máy truyền thông bảo thủ được tài trợ bởi giới tài phiệt tư bản xuyên quốc gia biết cách chế ngự đám đông làm nỗi sợ này ngày càng gia tăng. Guồng máy này tiếp tục ra rả đem ông ngáo ộp thất nghiệp dọa dẫm giới lao động.

Tập đoàn tư bản nắm cái cán dao việc làm vung qua vung lại rêu rao đe dọa đóng cửa cơ xưởng, xuất khẩu việc làm, và cắt giảm lương bổng. Chúng đòi được lợi tức tối đa, miễn thuế dài hạn, và giảm bỏ các luật lệ kiểm soát an toàn để tự do tung hoành trong sản xuất.

Giới lao động và công đoàn thất thế, chịu bị ép buộc vào những điều kiện bất lợi. Chỉ vì mong có được việc làm trước mắt nên họ dễ dàng thuần phục theo diễn luận tân-tự-do (neo-liberalism) đánh vào nhược điểm tâm lý mình. Họ hiểu mơ hồ nghe theo ủng hộ các biện pháp có điều kiện bất lợi về lâu dài cho chính họ mà lại vô cùng thuận lợi cho giới chủ nhân ông.

Cả hai giới lao động tri thức và chân tay đều ít lên tiếng phản kháng chống cự vì thói quen cố hữu với phận tôi đòi, hay tránh né sợ sệt ảnh hưởng đến việc làm hay quyền lợi riêng (dù là ảo tưởng và chẳng là bao).

Người ta có thể đưa quốc gia ra khỏi vòng thuộc địa nhưng chưa hẳn là đã đem tâm thức thuộc địa ra khỏi quốc gia.

Những người sinh ra và lớn lên ở VN thời thuộc địa và hậu thuộc địa dù không ít thì nhiều vẫn giữ lại tâm thức người thuộc địa. Một số người ham muốn tranh giành quyền lợi vẫn tiếp tục ôm lấy lề thói xin-cho trong tương tác với quyền lực chính thống cho dù đã rời VN trước đây rất lâu.

Họ xun xoe xin xỏ, chọn lựa bon chen tâng bốc chức sắc chính quyền các cấp. Họ không dám đòi hỏi quyền được tôn trọng và công nhận chính danh sự hiện hữu của cộng đồng. Họ phò tá thay vì chỉ xem những viên chức chính quyền là người phục vụ[10] dân và đáp ứng nhu cầu của người công dân. Rốt cuộc, những người đồng hương lờ mờ của họ chỉ được ăn cái bánh vẽ.

Giới thanh thiếu niên Mỹ gốc Việt sinh ra hoặc lớn lên (lúc còn bé) tại hải ngoại thì lại là một hiện tượng khác. Mặc dù họ không bị vướng tâm thức nô lệ thuộc địa nhưng lại kẹt mắc vào ứng xử suy nghĩ thông đồng với diễn luậnTrắng (Whiteness)[11]. Một diễn luận tạo tầng lớp nô lệ khác, đặc thù là nô lệ văn hoá.

Thực dân thì lắm dạng và nô lệ có nhiều kiểu.

Bản tuyên ngôn nô lệ ra đời (phê chuẩn và phổ biến) ngày 1 tháng 1 năm 1863. Nhưng 100 năm sau người Mỹ da đen qua phong trào dân quyền (civil rights movement) vẫn còn phải tranh đấu không ngừng để đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mình. Họ cũng chưa hẳn đã đạt được trọn vẹn quyền làm người bình đẳng bất khả xâm phạm này.

Mục sư Martin Luther King, Jr. từng kêu gọi người Mỹ da đen phải can đảm phải quyết tâm vực dậy tự thảo cho chính mình bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ bản thân[12]. Ông nhắc họ – những tâm hồn nô dịch và tư tưởng bị thống trị không cần gươm đao – rằng không một bản tuyên ngôn giải phóng nào có thể cắt đứt, xóa bỏ những móc xích nô lệ ngoại trừ ý thức và ý chí từ mỗi người.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, cũng nên suy gẫm về điều nhắn nhủ ấy. Thay vì sống chia rẽ, kèn cựa, phân hóa, và tự cô lập thụ động – những hành động suy nghĩ chỉ có lợi cho thế thực dân thống trị mới – chúng ta nên chọn đồng lòng hợp sức thoát khỏi cơn mê chiều[12]. Chúng ta cần tự vực mình dậy mà đi, và tự viết bản tuyên ngôn nhân quyền cho chính cá nhân thì mới mong thoát khỏi cái kiếp lê thê, ê chề của nô lệ ăn mày.


http://vietsoul21.net/2010/11/20/pho-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-dan-1/

© 2010 VietSoul:21



NOTES:

[1] Hà Văn Thịnh, Tôi sai.

[2] RFA, Khiếu kiện đất đai gia tăng tại Việt Nam. (Video)

[3] RFA, Đằng sau những tập đoàn kinh tế

[4] Alschuler, L. R. (2006). "The psychopolitics of liberation", Chapter 3 – Decolonization and Narcissism, p.43

[5] Nguyễn Minh Triết "Lòe" Việt Kiều.

[6] danlambao.com, Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng lấy đâu tiền mua trống 1,2 triệu USD?

[7] Nhà quốc hội hay nhà xí?

[8] VnExpress (2010, August 29). Người lái đò bỏ tiền xây cầu cho dân nghèo. Dân Trí (2010, June 13). Xác định vị trí xây cầu Khuyến học & Dân trí vượt sông Pô Kô.
Tin 180.com (2010, February 14).
 Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương.

[9] Memmi, A. (1957). "The colonizer and the colonized".

[10] Tiểu Sài-gòn (Seattle) yêu cầu Thị trưởng: lời nói đi đôi với việc làm, (Little Saigon asks the Mayor to walk the talk), International Examiner, 2009

[11] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as "a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities" (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as "a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination" (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[12] Martin Luther King, Jr. Speech "Sign your own emancipation" (Ký bản tuyên ngôn giải phóng của bạn)

[13] Hoàng Hạc (2010, February 5). Cơn Mê Chiều, nhạc phẩm thống thiết viết từ bối cảnh Mậu Thân. Trong bài hát "Cơn mê chiều" sáng tác bởi Nguyễn Minh Khôi có đoạn mở đầu sau đây: "Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn. Đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng"


Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Thursday, November 25, 2010

Nanh vuốt con quái vật đang lộ dần

Nanh vuốt con quái vật đang lộ dần


Chủ tịch Trung quốc Hồ Cẩm Đào là vật thế lực nhứt hành tinh,

Tổng thống Mỹ Barak Obama xếp hàng thứ nhì.

(theo báo Mỹ Forbes)

  Tâm Tư


Đã có người từng ví Tàu là một con quái vật, cả thế giới xúm nhau vổ béo, mặc dầu ai cũng biết nó có thể trở chứng bất cứ lúc nào.


Thật vậy, cách đây mấy thế kỷ (năm 1816), nhân đọc một tài liệu về chuyến du hành Trung hoa của vị Đại sứ Anh đầu tiên ở bên Tàu (Lord Macartney), Hoàng đế Nả Phá Luân đệ nhứt (1769-1821) của Pháp đã tiên liệu: «Một khi Tàu thức dậy, thế giới sẽ rung chuyển.» (Lorsque la Chine s'éveillera, le monde tremblera), so với thực trạng ngày nay, phải chăng đó là một lời tiên tri?


Cách đây non 40 năm, nhà học giả, vừa là chính khách nổi tiếng của Pháp -ông Alain Peyrefitte (1925-1999) -đã lấy lời tiên đoán này làm nhan đề cho một quyển sách dày trên 450 trang (nxb Fayard 1974), người đọc có thể coi đây như một cảnh báo về «họa da vàng».


Từ đó đến nay, không biết bao nhiêu nước bọt và giấy mực bàn về vấn đề này, có người cho hãy còn lâu Tàu mới bặt kịp Tây phương, có người tin tưởng là Mỹ đã có sẵn bửu bối để trừ khử con quái vật một khi nó trở chứng, cũng có lập luận cho rằng Tàu sẽ tự suy vong vì không thể vượt qua bao nổi khó khăn nội bộ (bất công xã hội bùng nổ, suy yếu vì nạn tam phân ngũ liệt như thời Đông châu, Tam quốc).


Nói gì thì nói, thế lực của Tàu vẫn không ngừng lớn mạnh trong khi Tây phương thì đang hụt hơi, cứ tiếp tục đà này thì liệu thế giới có giữ nổi thế nguyên trạng hiện nay?


Vậy Tàu không ngừng lớn mạnh như thế nào? Tây phương đang hụt hơi ra sao?

 

Do vũ khí thô sơ, thua các trận chiến tranh nha phiến (khởi từ 1839), Tàu buộc lòng chấp nhận nhiều thỏa hiệp bất công (bồi thường chiến phí, mở cửa cho Tây phương tự do giao thương, mất một số vùng đất (nhượng địa Hongkong, Macao), kế tiếp là gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến Trung -Nhựt (1937-45), sau cùng lại phải sống dưới chế độ khắc nghiệt giáo điều cộng sản (từ 1949) do Mao Trạch Đông lãnh đạo.


Thời đó dân Tàu rất nghèo, nạn đói gần như triền miên, có thể nói nước Tàu chỉ mới bắt đầu khởi sắc từ cuối thập niên 1970, khi ông Đặng Tiểu Bình (1904-1997) trở lại nắm quyền, với đầu óc thực tế (câu để đời: «không cần phân biệt mèo trắng hay mèo đen, miễn bắt được chuột»), ông đề xướng chủ trương cải cách nước Tàu, mở cửa giao thương với Tây phương.


Thử xem lại tiến độ phát tiển của Tàu trong vòng 30 năm qua:

 

 

19

81

19

90

20

00

20

05

Hạng

Nước

TSLQG  (*)

Nước

TSLQG (*)

Nước

TSLQG (*)

Nước

TSLQG (*)

1

Hoa Kỳ

2.906

Hoa Kỳ

5.330

Hoa Kỳ

9.448

Hoa Kỳ

12.359

2

Liên Xô

1.255

Nhựt

2.891

Nhựt

4.682

Nhựt

4.657

3

Nhựt

1.142

Đức

1.498

Đức

1.862

Đức

2.796

4

Tây Đức

683

Pháp

1.191

Anh

1.432

Anh

2.280

5

Pháp

569

Ý

1.089

Pháp

1.275

Tàu

2.254

6

Anh

498

Anh

987

Ý

1.053

Pháp

2.153

7

Ý

350

Gia Nả Đại

578

Tàu

1.052

Ý

1.762

8

Gia Nả Đại

284

Tây Ban Nha

491

Ba Tây

804

Gia Nả Đại

1.113

9

Tàu

264

Tàu

416

Gia Nả Đại

660

Tây Ban Nha

1.110

 

(*) Tổng sản lượng quốc gia, theo tiếng Pháp là PNB global (Produit national brut global, tiếng Anh: GDP (Gross domestic product), đơn vị là tỷ mỹ kim

 

Đối chiếu tiến độ phát triển giữa HK và Tàu:

 

 

19

81

19

90

20

00

20

05

20

10

Nước

GDP

Hạng

GDP

Hạng

GDP

Hạng

GDP

Hạng

GDP

Hạng

Hoa Kỳ

2.906

1

5.330

1

9.448

1

12.359

1

14.260 (a)

1

Tàu

264

9

416

9

1.052

7

2.254

5

4.900 (a)

2

Sai biệt HK/Tàu

11 lần

 

13 lần

 

9 lần

 

5, 5 lần

 

3 lần

 

 

(a) Tổng sản lượng nội địa (GDP) ghi nhận đến cuối tháng 10-2010 (theo tạp chí Forbes), Tàu vượt hơn Nhựt, từ đó có tiên đoán là Tàu sắp sửa qua mặt Nhựt trong năm 2010, vượt lên hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ, nhứt là đang sở hữu một trữ lượng ngoại tệ khổng lồ (2.700 tỷ mỹ kim), có người cho rằng G20 rồi sẽ chỉ còn là G2, ám chỉ là chỉ còn Mỹ và Tàu họp nhau tung hoành trên bàn cờ thế giới.

 

Trước đây, chắc không mấy ai ngờ tới, trong vòng không đầy 30 năm, từ một nước nghèo nàn lạc hậu, Tàu thu ngắn khoảng cách vời HK, qua mặt các cường quốc khác vươn lên ngôi vị số hai hiện nay, với đà này, chắc cũng khó có ai hình dung cục diện thế giới trong vòng 30 năm tới?

 

Trong khi ngân sách quốc gia nhiều nước phát triển vẫn không ngừng thâm thủng, đây là món nợ sớm muộn gì cũng phải trả, càng kéo dài càng thiệt hại cho các thế hệ kế tiếp. Tiêu biểu cho tình trạng này là Hoa Kỳ, một siêu cường nhưng lại mang công nợ nhiều nhứt thế giới, chủ nợ quan trọng nhứt lại là Tàu ( 868 tỷ mỹ kim).


Theo đồng hồ công nợ đặt tại khu Manhattan -Nửu ước HK (http://www.brillig.com/debt_clock/), xin trích y vào ngày 23-11-2010:

The Current Outstanding Public Debt of the United States is:
$13,789,699,194,529.33
Last Updated: Tuesday, November 23rd, 2010 (updated daily)
Every man, woman and child in the United States currently owes $45,387 for their share of the U.S. public debt
http://chart.apis.google.com/chart?chs=400x150&chd=t:66.7551322171,33.2448677831&cht=p3&chdl=Public+Debt%7CIntragovernmental+Holdings&chtt=Breakdown+of+Total+National+Debt%7COutstanding

Public Debt: $9,205,331,929,626.46
Intragovernmental Holdings: $4,584,367,264,902.87
Total U.S. National Debt: $13,789,699,194,529.33

 

Số nợ này gần bằng với GDP HK, gấp 2,8 lần GDP Tàu, 230 lần GPD Việt Nam.

Tính bổ đồng mỗi gia đình người HK (trung bình 4 người) đang gánh chịu số nợ trên 180 ngàn mỹ kim.

 

Có người nghĩ là để giảm nợ, Mỹ chỉ cần phá giá đồng mỹ kim, số nợ tức thì sẽ giảm theo với tỷ lệ phá giá, chuyện đời không đơn giản như thế, vì ngoài Tàu, HK còn nợ nhiều nước đồng minh như Nhựt (836 tỷ), Anh (448 tỷ), … và tệ hại nhứt là sự phá giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính đời sống nhân dân HK (vật giá gia tăng, tiền tiết kiệm bổng chốc mất theo tỷ lệ lạm phát), muốn bớt nợ cần giảm bớt nhập cảng (hiện các cân thương mại chênh lệch với Tàu hàng tháng khoản 24 tỷ), việc tương đối dễ dàng như thế còn không làm được (do sự chống đối của người tiêu thụ và cả giới tài phiệt -khoảng 50 ngàn xí nghiệp HK đang ăn nên làm ra tại Trung quốc) thì huống hồ gì là chuyện phá giá.


Tuy là thị trường tiêu thụ hàng Tàu lớn nhứt, nhưng cũng đừng vội tưởng Tàu sẽ suy sụp nếu bị HK "ngăn sông cấm chợ", đừng quên sức tiêu thụ hàng tỷ người cũng như khối nhân công rẻ, Tàu là một môi trường tiêu thụ và đầu tư hấp dẫn, cả thế giới đang tranh nhau khai thác (xây dựng nhiều cơ sở sản xuất), hơn nữa, mọi quyết định của HK và Tây phương đều có thể gặp phản ứng trả đủa, theo tờ Financial Times thì hãng sản xuất xe hơi lớn nhứt của Mỹ General Motors sắp phá sản gượng dậy được là nhờ xuất cảng ồ ạt sang Tàu (1).


Thật không dễ dàng gì khi lấy một quyết định lợi bất cập hại như vậy!

 

Về phía HK, do chênh lệch cán cân thương mại kéo dài, khối lượng thâm thủng ngân sách ngày càng lớn, nợ nầng chồng chất, HK phải buộc lòng từ bỏ nhiều dự án đại qui mô về chinh phục không gian, giảm thiểu các ngân khoản dành cho nhiều chương trình nghiên cứu (rất cần thiết cho công cuộc phát triển trong tương lai).


Còn Tàu, nhờ "vai mang bị bạc kè kè, nói quấy nói quá chúng nghe rầm rầm", họ đang lấn đất giành dân với Tây phương, đang đảo ngược thế thượng phong ở Phi châu (Nam Phi, Congo, Ghana, Kenya, Mozambique, Zambie, …) và đang lấn sâu vào "sân sau của Hoa kỳ" như Ba Tây (hiện đối tác thương mại hàng đầu trên HK), Bolivie, Ecuador, … hợp tác khai thác dầu hỏa ở Vénézuela. Ngay cả một số quốc gia Tây phương đang chới với trong cơn khủng hoảng kinh tế (Hy Lạp, Bồ Đào Nha) cũng mong chờ bàn tay tế độ của Tàu.


Kỳ thật là HK không còn đủ sức mạnh để áp đặt mọi chuyện trên thế giới theo ý mình (như đơn phương đánh Irak bất chấp Liên hiệp quốc, quyết định cấm vận đơn phương, bắt buộc các nước khác phải nghe theo nếu không muốn bị HK trừng phạt như luật Amato), trái lại mọi quyết định trừng phạt quốc tế nào (theo mong muốn của HK) cũng cần được sự hưởng ứng của Tàu, nếu không thì chỉ tổ giúp Tàu có cơ hội tạo thêm vây cánh (trường hợp Iran, Miến Điện, Bắc Hàn, …), làm như vậy thật chẳng khác nào dọn cổ sẵn cho Tàu xơi.

 

Cũng nhờ phương tiện dồi dào, Tàu đã mua nhiều cơ sở sản xuất nổi tiếng của Tây phương như Lenovo Group mua IBM, nếu Quốc hội Mỹ không ngăn chận, CNOOC (China National Offshore Oil Corporation) đã mua hãng dầu Unocal (18,5 tỷ mỹ kim); muốn bán các loại thiết bị máy móc, các cơ sở sản xuất Tây phương phải chuyển giao cả kỹ thuật (2), đây là dịp Tàu thụ đắc được các kiến thức khoa học hiện đại, nên nhớ ngoài tài bắt chước, dân Tàu còn nổi tiếng cần cù và thông minh, họ đã từng có những phát minh nổi tiếng (giấy, kỹ thuật ấn loát, thuốc súng, địa bàn, …), những nhà tư tưởng vĩ đại (Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, …), với đà này, chẳng bao lâu nữa Tàu sẽ bắt kịp và qua mặt các cường quốc Tây phương, giống như sau thế chiến thứ hai, hàng hóa Nhựt rẻ như bèo, nhưng bây giờ hàng "made in Japan" là số một.


Thật vậy, nhiều chỉ dấu cho thấy Tàu đang cạnh tranh với Tây phương trong một số lãnh vực, như xe lửa cao tốc (xây dựng ở Thổ Nhỉ Kỳ, Vénézuela, có thể sắp tới ở Arabie Saoudite, kể cả HK –đã ký tiền thoả hiệp với tiểu bang California), sắp sản xuất máy bay hàng không dân dụng cạnh tranh với Boeing, Airbus (3).


Thiển nghĩ đó cũng là điều tự nhiên, có tiền mua tiên cũng được mà, trong khi Liên Âu chưa thực hiện được dự án chinh phục không gian riêng (phải hợp tác với Hoa Kỳ, Nga) thì Tàu đã có những bước nhảy vọt trong lãnh vực này (xây dựng các trung tâm nguyên tử, phóng phi thuyền đưa người lên không gian, hỏa tiển triệt hạ vệ tinh, đang thực thị dự án thám hiểm mặt trăng, chuẩn bị đưa người lên viếng chị Hằng vào năm 2020), tin mới nhứt là Tàu vừa chế tạo một máy siêu điện toán mạnh nhứt hành tinh, hơn hẳn máy mạnh nhứt hiện nay của HK, vào cuối tháng 10 vừa qua, Tàu đã đoạt ngôi vị số 1 của HK với máy điện toán Tianhe -1A, có khả năng 2, 507 pétaflops/giây, tương đương 2,5 triệu tỷ bài toán trong một giây trong khi máy mạnh nhứt của HK hiện nay là 1,75 pétaflops/giây (4), cũng chính HK đã nghi ngờ Tàu dính líu trong một số vụ gây xáo trộn hệ thống thông tin toàn cầu (5).

Vị thế bá chủ của đồng mỹ kim cũng đang bị rung rinh, Tàu đã yêu cầu xét lại ưu thế này, đề nghị nghiên cứu một hệ thống bản vị giao hoán quốc tế mới thay thế đồng mỹ kim được giải Nobel kinh tế Joseph Stiglitz hậu thuẫn, Chủ tịch Quỹ tiền tệ quốc tế (FMI) D. Strauss Kahn biểu đồng tình, .. dầu chưa thực hiện trong ngày một ngày hai, nhưng đó là điềm tiên báo sự thay đổi.

Nhưng có lẽ điều đáng ngại nhứt trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tương lai, do thiếu phương tiện, nhiều công trình khoa học kỹ thuật của Tây phương bị chựng lại hay đình chỉ thì Tàu lại dành nhiều ngân khoản khổng lồ cho lãnh vực này, thể hiện qua các dự án công trình nghiên cứu, trang bị những phòng thí nghiệm, đào tạo đội ngũ khoa học kỹ thuật, theo Bản tường trình của Unesco về khoa học năm 2010 thì chẳng bao lâu nữa Tàu sẽ vượt qua HK (6).


Cũng có lập luận cho rằng sự bành trướng của Tàu là chuyện "tất đến", theo Aleksandr Anatolievich Khramchikhin -Phó Giám đốc Viện Phân tích Chính trị và Quân sự, Liên Bang Nga: "chúng ta hoàn toàn không thể hiểu, Trung Quốc sẽ làm thế nào để tránh, không bành trướng ra bên ngoài bằng tất cả các hình thức của nó (kinh tế, chính trị, nhân khẩu, quân sự). Nó hoàn toàn không có sức sống trong các ranh giới hiện nay của mình. Hoặc là nó phải lớn lên gấp bội, hoặc là nó buộc phải nhỏ hơn rất nhiều. Bởi thế, vấn đề không phải là sự xâm lược của Trung Quốc, mà là với nó, bành trướng là kế sách duy nhất để sống sót.


Đó không phải là con ngoáo ộp, mà là hiện thực khách quan đang cắt cứa vào giác quan của ta.

Quả thật, vẫn còn ít người cảm nhận được hiện thực ấy. Nhưng chẳng bao lâu nữa, nó sẽ tới.» (7)

 

Bây giờ thì nanh vuốt con quái vật đang lộ dần, không che dấu mộng độc chiếm biển Đông, ức hiếp các tiểu quốc, thách thức các đại bang, không biết hư thực ra sao, nhưng thực tế này ứng hợp với những lời phát biểu đầy tính khiêu khích (quyết tâm giải quyết vấn đề HK) của tướng Trì Hạo Điền, nguyên Bộ trưởng quốc phòng Trung quốc.

 

Nhìn lại chiều dài lịch sử của nhân loại, bao nhiêu nền văn minh rực rỡ đã nối tiếp suy tàn, thậm chí không còn để lại dấu vết, âu cũng đúng theo quy luật thiên nhiên sinh -trưởng -thu –tàn, cái gì lên đến tột đỉnh rồi cũng phải rơi xuống, lịch sử cận đại đã minh chứng, từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha vẫy vùng năm châu bốn biển trong thế kỷ 17, 18, kế đến Anh, Pháp làm mưa làm gió trong thế kỷ 19 rồi HK, Liên Xô gần như chia đôi thiên hạ trong thế kỷ 20, sau khi Liên Xô sụp đổ, HK độc chiếm vị trí thống lãnh toàn cầu, có thể nói đỉnh cao là cuộc chiến Irak (ngụy tạo bằng chứng cốt để triệt hạ nhà độc tài mén S. Hussein) năm 2003, đơn phương hành động bất chấp Liên hiệp quốc, đây là một cuộc chiến vô cùng tốn kém, ước tính hao tốn đến 3 ngàn tỷ mỹ kim (8), đây cũng là cuộc chiến làm oen ố hình ảnh của HK trên trường quốc tế.

 

Giống y chuyện thế nhân thường tình, ai có sức mạnh hơn người thường có khuynh hướng sử dụng cơ bắp hơn là lý lẽ để khuất phục kẻ yếu hơn mình, vô tình đã tạo lắm kẻ thù tiềm ẩn (diện phục tâm bất phục), một khi họ họp nhau lại để chống cường quyền thì "mãnh hổ nan địch quần hồ", thế lực cũ suy tàn nhường chỗ cho một thế lực mới, khai mở một chu kỳ sinh -trưởng  -thu –tàn mới.


Thật đáng suy ngẫm lời của nhà binh pháp nổi tiếng Tôn Tử: "Bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã, bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã." (vị tướng đánh trăm trận trăm thắng, chưa phải là vị tướng giỏi trong các vị tướng giỏi, vị tướng không cần xuất quân mà khuất phục được binh lực đối phương mới thực là vị tướng giỏi trong các vị tướng giỏi). Chính giới trí thức HK cũng hiểu rõ vấn đề này, theo ông Joseph Nye: «Đã qua rồi thời kỳ chỉ biết có diệu võ dương oai, mà phải sử dụng mọi ưu điểm về tư tưởng, văn hóa, chính trị, ... để thuyết phục và lôi kéo thế giới, ông gọi đó là "nhu lực" (soft power) khác hẳn với chủ trương "cây gậy và củ cà rốt" (hard power).» (9).


Có thể coi việc một tạp chí nổi tiếng của HK xếp Chủ tịch Trung quốc Hồ Cẩm Đào là nhân vật thế lực nhứt hành tinh như một tiếng chuông cảnh tỉnh, dám nhìn thẳng vào thực tế để ứng phó hữu hiệu ích lợi hơn là tự ru ngủ trên cành nguyệt quế.


Đầu năm 2003, khi HK đang chuẩn bị đánh Irak, kẻ viết bài này đã từng tự hỏi : "Trước một thế giới đảo điên, nếu Mỹ thấm đòn, kinh tế thế giới suy trầm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Bá quyền khu vực chiếm lĩnh thượng phong "tranh bá đồ vương", một tai họa còn hơn Thực dân, Quốc xã, Cộng sản, Đế quốc Nhựt, ... đang ẩn hiện ở cuối chân trời.


Nhân loại phải chăng đang bước vào một thời kỳ đầy bất trắc?» (10)

 

Tâm Tư

(11-2010)

 

 

Ghi chú

(1) Le Financial Times écrit: «Si la General Motors croit en Dieu, elle doit sans doute être en train de prier à genoux pour le remercier de l'existence de la Chine. L'an dernier, la vente des voitures GM en Chine a augmenté de 66 pour cent, alors qu'aux États-Unis, elle baissait de 30 pour cent. Sans la Chine, la GM n'aurait pu être sauvée.»

Les chiffres de vente élevés de la General Motors et de la plupart des autres entreprises américaines en Chine ne sont possibles que parce que l'économie et le pouvoir d'achat de la population y croissent rapidement. C'est une bonne chose, non seulement pour les entreprises américaines en Chine, mais pour toute l'économie mondiale.

(2) Le Monde 10-11-2010 : Science : la Chine ébranle le monde : les brevets montrent encore une hégémonie quasi complète de la Triade (Etats-Unis, Europe, Japon). Mais que vaut cette domination lorsque les grands contrats industriels s'accompagnent de cessions de technologies ou que des firmes des économies émergentes «achètent des grandes entreprises dans des pays développés, acquérant du jour au lendemain leur capital-savoir» ? Comme l'acquisition du français Rhodia Silicone (et de son portefeuille de brevets) par BlueStar, dont le nom ne dit pas qu'il s'agit d'une firme… chinoise.

(3) Le Figaro 16/11/2010 : La Chine défie Boeing et Airbus

Attendu dans le ciel en 2016, le rival des Airbus A 320 et Boeing B 737 est la vedette du salon aéronautique chinois. Le C919, commandé à 100 exemplaires, porte les espoirs de Pékin de devenir un géant de l'aviation civile. 

coeur-La vedette, au salon aéronautique de Zhuhai, qui a ouvert ses portes ce mardi dans le sud de la Chine, est un avion qui ne vole pas ! Des dizaines d'officiels chinois, entourés d'une myriade de gardes du corps, ont convergé vers le salon où était annoncée en grande pompe la première commande d'une centaine de C 919, le futur avion de ligne chinois. En haie d'honneur, des maquettes aux robes différentes renseignaient sur les acheteurs pionniers : quatre grandes compagnies chinoises (Air China, China Eastern, China Southern et Hainan Airlines) et deux sociétés de leasing, l'une chinoise, Guoyin Financial, et l'autre américaine, GE Capital Aviation Services.

Cette commande de 100 appareils donne du corps au programme de Comac (Commercial Aircraft Corp. of China), qui prévoit un premier vol d'essai en 2014 et la première livraison à partir de 2016. Le C 919 est un appareil monocouloir de 168 à 190 places, court ou moyen- courrier et, donc, un concurrent direct des Airbus A 320 et Boeing 737.

(4) LEMONDE.FR | 28.10.10 : Dans la course aux performances des super-calculateurs, la Chine a vraisemblablement détrôné, jeudi 28 octobre, les Etats-Unis. Conçu par deux cents ingénieurs, le Tianhe-1A ("voix lactée") est un superordinateur hébergé au National Center for Supercomputing, dans la ville de Tianjin, dans le nord-est de la Chine.

Le système a une capacité de 2,507 pétaflops par seconde, soit l'équivalent de 2,5 millions de milliards d'opérations par seconde. Jusqu'à présent, c'était le système Jaguar, du département de l'énergie américain, qui disposait de la plus grande puissance de calcul, avec 1,75 pétaflops par seconde.

(5) RFI ngày 19-11-2010: Sự kiện đáng ngại nhất vừa được Ủy ban Xét duyệt An ninh và Kinh tế Mỹ - Trung nêu bật trong bản báo cáo thường niên trình lên Thượng viện Mỹ hôm 17/11/2010 vừa qua : Đó là vào ngày 08/04/2010, thông qua một thủ thuật tin học, Bắc Kinh đã lái được 15% lượng thông tin lưu hành trên Internet trên toàn cầu, đi vòng qua các máy chủ đặt tại Trung Quốc trong vòng 18 phút đồng hồ.

Các thông tin bị chuyển hướng bao gồm các dữ liệu ra và vào website của rất nhiều định chế trọng yếu của Hoa Kỳ như Thượng viện, Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, Không quân, Bộ Quốc phòng, Cơ quan Hàng không Không gian NASA, Cơ quan Quản trị Khí quyển và Đại dương quốc gia, và các văn phòng chính phủ khác. Ngoài ra cũng có một số tập đoàn thương mại như Dell, Yahoo, Microsoft và IBM.

(6) Le Monde 10-11-2010 : Science : la Chine ébranle le monde : «Les cinq dernières années, qui font l'objet du présent rapport de l'Unesco sur la science, ont commencé véritablement à ébranler la suprématie traditionnelle des Etats-Unis.» Cette phrase, issue d'un rapport publié aujourd'hui par l'ONU, pèse lourd. Annoncer un bouleversement géopolitique en rupture avec les soixante années qui viennent de s'écouler exige quelques arguments.

Des signes du basculement se lisent dans la production des laboratoires de recherche. Depuis 2008, indique l'institut Scimago, la première institution scientifique du monde en nombre d'articles publiés est… l'Académie des sciences de Chine. Le classement par pays montre le séisme en cours dans la science mondiale. La Chine y était presque invisible en 1980. Elle pointe au quatrième rang, pour la période 1996-2008, suivie de l'Allemagne et de la France, précédée par le Japon, le Royaume-Uni et les Etats-Unis. En 2008, la Chine est deuxième. Dans quelques années, il y aura «plus de chercheurs dans les laboratoires chinois qu'aux Etats-Unis», prédit le rapport.

(7) Nguồn: Báo "АПН" (Агенство политических новостей) ,ra ngày thứ Tư, 15.4.2010 (http://www.apn.ru/publications/article20310.htm)- Theo bản dịch của long Lã Nguyên

(8)theo cuốn sách The three trillion dollar war –The true cost of the Iraq war của Joseph E. Stiglitz & Linda B. Bilmes, nxb W.W. Norton, NY 2008)

(9) Tuần báo le nouvel Observateur (5-11/9/2002): Pour une hyperpuissance soft

(10) Bài Họa chiến tranh (25-1-2003)



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.